Tag Archives: BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP

Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Tái định hình ngành lúa gạo theo hướng xanh, bền vững

Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh cơ hội tái định hình ngành lúa gạo theo hướng xanh, bền vững thông qua đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao tại ĐBSCL.

 

Ngày 8/3, tại phường Vị Thanh (TP Cần Thơ), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị sơ kết hai năm thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030.

Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An giới thiệu các sản phẩm tới Bộ trưởng Trần Đức Thắng tại hội nghị sáng ngày 8/3. Ảnh: Khương Trung.

Ông Phạm Thái Bình – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An giới thiệu các sản phẩm tới Bộ trưởng Trần Đức Thắng tại hội nghị sáng ngày 8/3. Ảnh: Khương Trung.

Phát biểu tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trịBộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết sau hơn hai giờ làm việc nghiêm túc, hội nghị đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Các đại biểu đã nghe báo cáo sơ kết hai năm triển khai đề án cùng nhiều ý kiến tâm huyết từ các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức quốc tế và các chuyên gia.

Theo Bộ trưởng, những ý kiến này cung cấp nhiều thông tin thực tiễn quan trọng, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp thiết thực cho giai đoạn tiếp theo của đề án. Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận và biểu dương sự vào cuộc tích cực của các địa phương, đơn vị, cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân trong thời gian qua.

Chuyển biến trong tư duy sản xuất lúa

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu kết luận tại hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu kết luận tại hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Theo đánh giá tại hội nghị, với cách làm bài bản, trách nhiệm và đồng bộ, đề án đã bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực. Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là sự thay đổi về nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân đối với mục tiêu phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo.

Đến nay, đề án được xác định không chỉ là chương trình phát triển sản xuất mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình cơ cấu lại ngành hàng lúa gạo vùng ĐBSCL, hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững và có trách nhiệm với môi trường.

Nông dân tại nhiều địa phương đã từng bước thay đổi tập quán canh tác truyền thống, tiếp cận và áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến như “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, nhiều mô hình quản lý nước tưới theo phương pháp ngập khô xen kẽ (AWD), sử dụng phân bón hợp lý và giảm phát thải khí nhà kính cũng được triển khai.

Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn trao đổi với Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Thành công lớn nhất của Đề án này là đem lại lợi ích to lớn cho nông dân thông qua các giải pháp về chuyển giao khoa học kỹ thuật như giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, qua đó giảm chi phí đầu vào trong sản xuất lúa, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và hiệu quả đầu ra cho nông dân. Ảnh: Khương Trung.

Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn trao đổi với Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Thành công lớn nhất của Đề án này là đem lại lợi ích to lớn cho nông dân thông qua các giải pháp về chuyển giao khoa học kỹ thuật như giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, qua đó giảm chi phí đầu vào trong sản xuất lúa, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và hiệu quả đầu ra cho nông dân. Ảnh: Khương Trung.

Một số địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp và An Giang đã chủ động nhân rộng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giúp nâng cao thu nhập cho nông dân, đồng thời góp phần giảm phát thải.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp lớn đã tham gia chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao, hỗ trợ nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, từng bước hình thành các liên kết sản xuất bền vững và minh bạch.

Theo Bộ trưởng, những kết quả bước đầu này không chỉ góp phần nâng cao giá trị ngành hàng lúa gạo mà còn phù hợp với cam kết của Việt Nam tại COP26 về mục tiêu đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050. Đồng thời, đây cũng là nền tảng để xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam theo hướng “xanh – sạch – chất lượng – bền vững”.

Tái định hình ngành lúa gạo theo hướng bền vững

 

Tuy vậy, quá trình triển khai đề án vẫn còn nhiều thách thức, đó là một số địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện; hạ tầng thủy lợi, đặc biệt là thủy lợi nội đồng, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất. Việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch cũng còn nhiều hạn chế.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, coi đây là khâu quan trọng để giảm phát thải và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, coi đây là khâu quan trọng để giảm phát thải và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, coi đây là khâu quan trọng để giảm phát thải và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Ngoài ra, năng lực tổ chức sản xuất của một số hợp tác xã và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế; nguồn lực tài chính xanh và các cơ chế hỗ trợ cho các mô hình giảm phát thải cần tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

Để đề án tiếp tục được triển khai hiệu quả và đi vào chiều sâu, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đề nghị các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan tập trung thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Trong đó, Bộ Tài chính được đề nghị phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện thủ tục trình phê duyệt dự án “Hỗ trợ hạ tầng và kỹ thuật cho lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL”, sử dụng vốn vay IBRD từ World Bank, đồng thời bố trí nguồn lực triển khai các nhiệm vụ của đề án theo Quyết định 1490/QĐ-TTg.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng trao đổi với bà Mariam Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Lào và Campuchia bên lề hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng trao đổi với bà Mariam Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Lào và Campuchia bên lề hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được đề nghị tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng bố trí nguồn vốn ưu đãi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Trong khi đó, Hội Nông dân Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tiếp tục đồng hành với các địa phương trong tuyên truyền, hướng dẫn nông dân tham gia đề án và thúc đẩy phát triển các hợp tác xã kiểu mới.

Đối với các địa phương, Bộ trưởng đề nghị chủ động xây dựng kế hoạch mở rộng diện tích áp dụng quy trình canh tác bền vững, phù hợp với từng vùng sinh thái; bố trí kinh phí triển khai các hoạt động từ năm 2026 để nhân rộng mô hình theo kế hoạch đã đăng ký.

Các địa phương cũng cần đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng, phát triển các mô hình tưới tiết kiệm nước như AWD, đồng thời cải thiện hạ tầng kho chứa và logistics nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về sản xuất lúa bền vững và xử lý rơm rạ sau thu hoạch.

Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tái định hình ngành hàng lúa gạo theo hướng hiện đại, bền vững và có trách nhiệm với môi trường.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên chụp ảnh lưu niệm với các doanh nghiệp, nhà sản xuất tham gia đề án. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên chụp ảnh lưu niệm với các doanh nghiệp, nhà sản xuất tham gia đề án. Ảnh: Khương Trung.

Ông kêu gọi các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp tục chung sức, đổi mới sáng tạo, quyết tâm triển khai thành công đề án, qua đó góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, nông dân giàu, nông thôn văn minh và hiện đại.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

Có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp

Cử tri tỉnh Hưng Yên kiến nghị có chính sách gắn kết giữa nông dân với doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tạo sự đồng bộ trong liên kết sản xuất với tiêu thụ.

 

Hình thành hàng nghìn mô hình liên kết gắn với vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn

Trả lời kiến nghị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện nay, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm trực tiếp hỗ trợ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu như: Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Đề án “Thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025” theo Quyết định số 1088/QĐ-BNN-KTHT ngày 25/3/2022; Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện nay, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm trực tiếp hỗ trợ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện nay, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm trực tiếp hỗ trợ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xây dựng vùng nguyên liệu gắn mã số vùng trồng, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc để phục vụ xuất khẩu; thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội nghị kết nối cung – cầu nông sản, hội chợ xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, tạo cầu nối trực tiếp giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp xuất khẩu.

Đồng thời, phối hợp các Bộ, ngành tháo gỡ rào cản kỹ thuật, mở cửa thị trường cho nông sản Việt Nam; thường xuyên cập nhật thông tin về nhu cầu, thị hiếu và phổ biến quy định về thị trường trong và ngoài nước; tổ chức các hội thảo tập huấn kỹ năng khai thác, tìm kiếm, dự báo thông tin thị trường, kết nối giữa sản xuất, tiêu thụ.

Đến nay, hàng nghìn mô hình liên kết đã được hình thành gắn với phát triển và mở rộng các vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tính đến hết tháng 6 năm 2025, các địa phương đã phê duyệt được 2.938 dự án, kế hoạch liên kết cho 119 sản phẩm nông nghiệp chủ lực, trong đó có 13 loại sản phẩm thuộc chủ lực quốc gia và 106 sản phẩm đặc trưng, lợi thế của địa phương; có 2.412 hợp tác xã, 538 tổ hợp tác, 1.305 doanh nghiệp và 211.545 hộ nông dân tham gia các chuỗi liên kết.

 

Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng nông sản, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, nhiều sản phẩm đã vào được thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ.

Tuy vậy, một số liên kết còn chưa bền vững, quy mô liên kết còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa tạo được ảnh hưởng thực sự đến thị trường tiêu thụ. Nông dân còn thiếu thông tin về thị trường và các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn hàng hóa ở các thị trường quốc tế khác nhau. Vai trò trung tâm trong chuỗi liên kết của các hợp tác xã nông nghiệp chưa phát huy hiệu quả, do năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh còn hạn chế, thiếu vốn, thiếu hạ tầng và công nghệ phục vụ bảo quản, chế biến và logistics.

Đề xuất tăng hỗ trợ đầu tư vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn

Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển hợp tác, liên kết bền vững giữa nông dân, hợp tác xã và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu, trong đó có việc tổng kết, kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 98/2018/NĐ-CP theo hướng tăng hỗ trợ đầu tư vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn; có cơ chế tín dụng hỗ trợ theo chuỗi giá trị; thúc đẩy truy xuất, mã số vùng trồng; hỗ trợ bảo hiểm và chia sẻ rủi ro trong hợp đồng liên kết.

Việc liên kết sản xuất giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp giúp nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích. Ảnh: Quốc Toản.

Việc liên kết sản xuất giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp giúp nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích. Ảnh: Quốc Toản.

Đồng thời đẩy mạnh đào tạo, thông tin thị trường và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người sản xuất; tiếp tục hỗ trợ phát triển hợp tác xã, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào bảo quản chế biến nông sản và logistics, thúc đẩy chuyển đổi số và áp dụng truy xuất nguồn gốc, qua đó tạo sự gắn kết chặt chẽ, đồng bộ và bền vững giữa nông dân với doanh nghiệp xuất khẩu.

Một triệu hecta lúa chất lượng cao: Đi sớm, đón đầu xu thế tiêu dùng xanh

Sau hơn một năm triển khai, Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao khẳng định sự đúng đắn, nhưng cần giải pháp đột phá để đi vào chiều sâu trong giai đoạn tới.

 

Đi sớm, đón đầu

Sáng 9/4, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy chủ trì Hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” (gọi tắt là Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao).

Hội nghị còn có sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam và các đơn vị trực thuộc; Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú; đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường 12 tỉnh, thành vùng ĐBSCL; cùng các tổ chức quốc tế, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia đề án.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy chủ trì Hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao tại TP Cần Thơ. Ảnh: Kim Anh.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy chủ trì Hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao tại TP Cần Thơ. Ảnh: Kim Anh.

Sau hơn một năm thực hiện Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy khẳng định, đề án là bước đi chủ động, “đi trước, đi sớm” đón đầu xu hướng tiêu dùng xanh và hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững. Bởi nếu không có sự chuẩn bị từ bây giờ, các doanh nghiệp – đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo sẽ đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi thị trường quốc tế.

Bộ trưởng nhận định, tới một thời điểm nào đó, thế giới sẽ tuyên bố ngừng nhập khẩu lúa gạo không đạt tiêu chí phát thải thấp. Lúc ấy, chỉ những sản phẩm gạo xanh, canh tác theo quy trình giảm phát thải mới vào được các thị trường khó tính.

Thực tế, điều tương tự đã xảy ra với ngành thủy sản và gỗ. Nếu như trước đây, xuất khẩu thủy sản khá thuận lợi, thì hiện nay bắt buộc phải minh bạch từ khâu truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng và kháng sinh, mới có thể vào được những thị trường khó tính.

Ngành gỗ cũng vậy, từng xuất khẩu dễ dàng, nhưng hiện tại muốn tiếp cận thị trường quốc tế, sản phẩm gỗ buộc phải có chứng chỉ FSC về phát triển rừng bền vững.

Lúa gạo – một trong những ngành hàng xuất khẩu chiến lược chắc chắn không nằm ngoài xu hướng này. Việc dán nhãn “gạo phát thải thấp” sẽ trở thành điều kiện tiên quyết để được chấp nhận ở nhiều thị trường.

Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhận định, tham gia Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao không chỉ là sự chuẩn bị cần thiết, mà còn là cơ hội để doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường. Ảnh: Kim Anh.

Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhận định, tham gia Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao không chỉ là sự chuẩn bị cần thiết, mà còn là cơ hội để doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường. Ảnh: Kim Anh.

Đến nay, bước đầu Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao đã cho thấy những kết quả tích cực, thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả và khả thi. Rõ nét là sự chuyển biến về tư duy và nhận thức của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân về mục tiêu phát triển bền vững ngành lúa gạo Việt Nam.

Từ 7 mô hình thí điểm do Trung ương triển khai tại 5 tỉnh, thành vùng ĐBSCL, đến nay đã mở rộng được 101 mô hình, với tổng diện tích hơn 4.500 ha. 

Nông dân từng bước tiếp cận và áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến như: “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, tưới ngập khô xen kẽ (AWD), sử dụng phân bón hợp lý và quan tâm nhiều hơn đến việc giảm phát thải khí nhà kính. Đây là những tiền đề quan trọng để xây dựng, hoàn thiện, chuẩn hóa và nhân rộng quy trình sản xuất lúa bền vững ở ĐBSCL.

Thông qua đề án cũng đã hình thành chuỗi sản xuất lúa gạo bền vững. Một số doanh nghiệp lớn đã tham gia chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao, hỗ trợ nông dân từ khâu giống, vật tư đầu vào, đến bao tiêu sản phẩm đầu ra.

Bên cạnh đó, Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam cũng đang phối hợp với các doanh nghiệp, đối tác quốc tế xây dựng bộ nhận diện nhãn hiệu gạo Việt Nam xanh, phát thải thấp.

Khơi thông điểm nghẽn

Mặc dù ghi nhận nhiều kết quả, tuy nhiên, thực tế quá trình triển khai Đề án một triệu hecta vẫn còn những tồn tại, thách thức.

 

Điển hình, một số địa phương còn lúng túng trong việc hiểu rõ nội hàm của đề án. “Có một số địa phương đặt vấn đề phải đầu tư hạ tầng trước. Điều này đúng, nhưng phải làm song song, không phải chờ làm xong hạ tầng mới triển khai. Có những khâu có thể làm được ngay, kế thừa những dự án đầu tư trước đây”, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy chỉ rõ.

Dự kiến trong năm 2025, diện tích áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải sẽ đạt gần 313.000 ha. Ảnh: Kim Anh.

Dự kiến trong năm 2025, diện tích áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải sẽ đạt gần 313.000 ha. Ảnh: Kim Anh.

Mặt khác, một số địa phương còn chú trọng vào mục tiêu trao đổi tín chỉ carbon, trong khi mục tiêu chính của đề án là chuyển đổi sản xuất bền vững, giảm chi phí, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và thu nhập nông dân. Dẫn đến, một số khâu dù rất quan trọng nhưng chưa được chú trọng như: quy trình canh tác, chế biến sâu, đầu tư hệ thống logistics…

Bên cạnh đó, việc xây dựng hạ tầng thủy lợi phục vụ yêu cầu tưới tiêu, quản lý đồng ruộng chưa theo kịp tiến độ, trong khi đây là điều kiện tiên quyết để áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến.

Nhiều nơi, nông dân, HTX và cả doanh nghiệp chưa chủ động đổi mới phương thức sản xuất. Nhất là trường hợp phải đầu tư thêm chi phí ban đầu, còn tâm lý trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước.

Hay vấn đề xử lý phụ phẩm (rơm, rạ) để giảm phát thải mới chỉ dừng lại ở việc thí điểm một số mô hình và khối lượng xử lý còn ở mức thấp.

Những tồn tại, thách thức trên đang trở thành điểm nghẽn, cần được nhận diện và có giải pháp tháo gỡ kịp thời để triển khai đề án hiệu quả hơn trong thời gian tiếp theo.

Do đó, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy đề nghị các địa phương vùng ĐBSCL khẩn trương phê duyệt dự án/đề án. Đồng thời ban hành chính sách hỗ trợ theo thẩm quyền và điều kiện cụ thể của địa phương.

Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành ĐBSCL thường xuyên phối hợp với doanh nghiệp tổ chức trình diễn, hướng dẫn quy trình canh tác lúa chất lượng cao, giảm phát thải cho nông dân. Ảnh: Kim Anh.

Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành ĐBSCL thường xuyên phối hợp với doanh nghiệp tổ chức trình diễn, hướng dẫn quy trình canh tác lúa chất lượng cao, giảm phát thải cho nông dân. Ảnh: Kim Anh.

Tiếp tục mở rộng diện tích áp dụng quy trình canh tác bền vững theo lộ trình, xác định diện tích các vùng canh tác, bao gồm các vùng đệm và xây dựng kế hoạch, triển khai cụ thể.

Bên cạnh đó, ưu tiên đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng, phát triển các mô hình tưới tiết kiệm nước, giảm phát thải; cải thiện hạ tầng, kho chứa, logistics, để giảm thất thoát sau thu hoạch…

“Đối với hạ tầng cấp vùng và liên vùng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ chịu trách nhiệm chính, đề xuất với Chính phủ để tìm kiếm các nguồn lực thực hiện. Nhưng hạ tầng trong từng quy mô diện tích, vùng sản xuất các địa phương phải hết sức chú trọng, bố trí ngân sách địa phương và nguồn vốn lồng ghép để triển khai”, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy cho biết.

Bộ trưởng cũng đề nghị Bộ Công Thương nghiên cứu, tham mưu Chính phủ điều chỉnh, bổ sung chính sách quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo bảo đảm hiệu quả bền vững; hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp trong xúc tiến thương mại, phát triển thị trường.

Đối với các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển, Bộ trưởng đề nghị phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, chia sẻ kinh nghiệm. Nhất là sáng kiến huy động nguồn lực tài chính xanh, phục vụ triển khai các mô hình giảm phát thải trong sản xuất lúa.

Ứng dụng cơ giới hóa là một trong những giải pháp thúc đẩy sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải. Ảnh: Kim Anh.10

Ứng dụng cơ giới hóa là một trong những giải pháp thúc đẩy sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải. Ảnh: Kim Anh.

Đối với các đơn vị thuộc Bộ, Bộ trưởng giao Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật khẩn trương hoàn thiện quy trình đo đếm, báo cáo và kiểm định kết quả phát thải (MRV), quy trình canh tác bền vững trong phạm vi đề án.

Vụ Hợp tác quốc tế được giao nhiệm vụ phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu tham mưu, trình thành lập tổ đàm phán Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA). Đồng thời hoàn thiện thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư và triển khai nghiên cứu tiền khả thi cho dự án vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB) hỗ trợ đầu tư hạ tầng cho các vùng tham gia đề án.

 

Theo nongnghiep.vn 

Copyrights © 2019 VITAD-AGRI All Rights Reserved.

X