Category Archives: Tin tức

Tin tức

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Từ lễ phát động tại Thái Nguyên năm 2017, ngày 19/9 trở thành dịp để cộng đồng hữu cơ Việt Nam tôn vinh những người tiên phong, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối phát triển. Nhìn lại chặng đường đã qua, những thành tựu về chính sách, tiêu chuẩn, sản xuất và hội nhập quốc tế đang tạo nền tảng để nông nghiệp hữu cơ tiếp tục phát triển vì sức khỏe con người và môi trường.
Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam.
Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam.

Khởi nguồn từ một lời kêu gọi vì cộng đồng

Tháng 9/2016, tại Hội nghị thượng đỉnh các chính quyền địa phương châu Á về phát triển nông nghiệp hữu cơ lần thứ hai ở Goesan, Hàn Quốc, đại biểu các nước thống nhất lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ châu Á. Hưởng ứng sáng kiến này, ngày 19/9/2017, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á lần thứ nhất.

Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tỉnh Thái Nguyên, đại diện IFOAM châu Á cùng hàng trăm đại biểu. Với sự đồng thuận của các đại biểu, ngày 19/9 được lựa chọn làm Ngày Hữu cơ Việt Nam, gắn hoạt động của cộng đồng trong nước với phong trào hữu cơ khu vực.

TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường.
TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường. Trong ảnh: TSKH. Hà Phúc Mịch phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024.

Việc lựa chọn Thái Nguyên làm nơi phát động mang ý nghĩa đặc biệt. Phát biểu tại lễ phát động (năm 2017), TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA đã nhắc lại mô hình chè hữu cơ được xây dựng từ năm 1998 tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời điểm đó. Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nhà khoa học và cơ quan chuyên môn, đây là một trong những mô hình sản xuất hữu cơ sớm ở Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho quá trình phát triển sau này.

Từ những người trồng chè tiên phong đến các nhóm nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp lựa chọn sản xuất hữu cơ, điểm gặp nhau là mong muốn tạo ra sản phẩm đáng tin cậy, bảo vệ đất đai và gìn giữ môi trường sống. Ngày 19/9 vì thế mang ý nghĩa ghi nhận những nỗ lực bền bỉ ấy, đồng thời tạo cơ hội để người sản xuất gặp gỡ nhà khoa học, doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Ngay tại lễ phát động năm 2017, Chủ tịch VOAA đã bày tỏ niềm tin ngày hội hữu cơ Việt Nam sẽ được tiếp nối hằng năm, “không bao giờ ngừng và không có lần cuối”. Đó là kỳ vọng về một phong trào được duy trì bằng hành động thường xuyên, từ đồng ruộng đến thị trường.

Đến lễ kỷ niệm năm 2024, thông điệp tôn vinh, tri ân, chia sẻ kiến thức và kết nối những người làm hữu cơ tiếp tục được nhấn mạnh. Qua các dấu mốc, Ngày Hữu cơ Việt Nam trở thành dịp nhắc lại trách nhiệm chung: người sản xuất thực hành đúng tiêu chuẩn, doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, người tiêu dùng đồng hành với những sản phẩm được kiểm chứng.

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa.
Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa.

Những bước tiến về chính sách, sản xuất và hội nhập

Một thành tựu quan trọng của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam là từng bước hình thành nền tảng pháp lý và tiêu chuẩn. Nếu tại lễ phát động năm 2017, việc xây dựng chính sách riêng cho hữu cơ còn là nhiệm vụ đang được thúc đẩy, thì ngày 29/8/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ.

Tiếp đó, Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã xác lập định hướng dài hạn. Cùng với bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041, các văn bản này tạo cơ sở để tổ chức sản xuất, chứng nhận, quản lý chất lượng và triển khai chính sách hỗ trợ. Nông nghiệp hữu cơ có thêm điều kiện để phát triển theo những yêu cầu thống nhất, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị nông sản.

Theo báo cáo The World of Organic Agriculture 2026, do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ và IFOAM – Organics International công bố, năm 2024 Việt Nam có 125.045 ha đất nông nghiệp hữu cơ, chiếm khoảng 1,07% diện tích đất nông nghiệp và đứng thứ 5 châu Á; số nhà sản xuất hữu cơ đạt 65.466.

Báo cáo còn ghi nhận 17.946 tấn sản phẩm hữu cơ từ Việt Nam vào Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ trong năm 2024. Số liệu này phần nào cho thấy khả năng tham gia vào những thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc của sản phẩm hữu cơ của Việt Nam.

Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ).

Trong quá trình chuẩn hóa, VOAA tiếp tục đóng góp thông qua việc xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA trên nền tảng tiêu chuẩn PGS Việt Nam. Bộ tiêu chuẩn bao quát nhiều lĩnh vực, từ trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên đến chế biến và vật tư đầu vào. Tiêu chuẩn hữu cơ VOAA tiếp tục có tên trong Gia đình tiêu chuẩn IFOAM, với phạm vi được ghi nhận gồm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên, chế biến và xử lý sản phẩm. Đây là bước tiến trong việc kết nối thực hành trong nước với các yêu cầu hữu cơ quốc tế.

Với sản xuất quy mô nhỏ, Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) cũng là một đóng góp đáng chú ý. Theo cách tiếp cận của IFOAM, PGS dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan, sự tin cậy và trao đổi kiến thức. Cơ chế này tạo điều kiện để người sản xuất cùng giám sát, học hỏi và chia sẻ trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, qua đó củng cố mối liên kết với người tiêu dùng.

Năm 2025, VOAA phối hợp với IFOAM châu Á tổ chức Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 (OAC 8) tại Ninh Bình, thu hút hơn 550 đại biểu từ 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc đăng cai một diễn đàn hữu cơ lớn của khu vực cho thấy vai trò kết nối ngày càng rõ hơn của Việt Nam trong mạng lưới hữu cơ châu Á.

Ở góc độ địa phương, Thái Nguyên tiếp tục cho thấy sự nối tiếp từ nền tảng ban đầu. Thông tin tại Đại hội Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên ngày 28/8/2026 cho biết, diện tích cây trồng được chứng nhận hữu cơ của tỉnh đạt gần 200 ha, trong đó chè khoảng 178 ha. Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 – 2031, cũng đánh dấu bước phát triển về tổ chức, tăng khả năng tập hợp nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế.
Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình (OAC 8) năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế.

Tiếp nối thành tựu bằng chất lượng và niềm tin

Dù đã đứng trong nhóm đầu châu Á, diện tích hữu cơ mới chiếm khoảng 1,07% đất nông nghiệp của Việt Nam. Khoảng cách giữa vị trí xếp hạng và tỷ trọng thực tế cho thấy dư địa còn lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải chú trọng chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì vùng sản xuất, thay vì chỉ chạy theo mở rộng diện tích.

Đối với nông dân, quá trình chuyển đổi đòi hỏi thời gian cải tạo đất, thay đổi tập quán canh tác, ghi chép và kiểm soát đầu vào. Để người sản xuất kiên trì, hỗ trợ cần đi cùng toàn bộ quá trình ấy, từ hướng dẫn kỹ thuật đến duy trì chứng nhận và tìm đầu ra. Liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa bền vững khi trách nhiệm và lợi ích được chia sẻ rõ ràng.

Niềm tin thị trường cần được bảo vệ bằng thông tin có thể kiểm tra. Tên gọi “hữu cơ” phải gắn với tiêu chuẩn áp dụng, quy trình được kiểm soát và sự tuân thủ trong suốt chuỗi sản xuất, chế biến, phân phối. Khi chất lượng được duy trì ổn định, người tiêu dùng mới có cơ sở lựa chọn, còn người làm đúng mới được ghi nhận xứng đáng.

Từ góc độ đó, Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp để lan tỏa kiến thức thiết thực: hiểu đúng tiêu chuẩn, biết cách nhận diện sản phẩm và thấy được công sức phía sau mỗi mùa vụ. Hoạt động tôn vinh cũng cần giúp những kinh nghiệm tốt được chia sẻ, để các mô hình hiệu quả có thêm cơ hội kết nối và phát triển.

Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh giá trị của nông nghiệp hữu cơ vượt ra ngoài hiệu quả kinh tế của từng sản phẩm, gắn với các mối quan hệ công bằng, hài hòa trong hệ sinh thái và trách nhiệm với thế hệ mai sau. Quan điểm ấy tiếp nối tinh thần của lễ phát động năm 2017, đặt con người và môi trường sống ở trung tâm của quá trình phát triển.

Hướng tới ngày 19/9/2026, sự tri ân dành cho những người làm hữu cơ cần được tiếp nối bằng sự đồng hành cụ thể. Mỗi vùng đất được chăm sóc bền bỉ, mỗi quy trình được thực hiện nghiêm túc, mỗi chuỗi liên kết giữ được niềm tin sẽ góp phần làm dày thêm thành tựu của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Đó cũng là cách để ý nghĩa của ngày hội hiện diện trong đời sống hằng ngày, từ người nông dân trên đồng ruộng đến bữa ăn của mỗi gia đình.

Thực hiện: Phạm Thông

phamthong.nnhcvn@gmail.com
Theo https://nongnghiephuuco.vn/

 

Từ phân bón biochar đến hành trình xây dựng những vùng nông sản hiệu quả cao

Trong hành trình chuyển dịch tư duy sản xuất nông nghiệp từ lượng sang chất, ngành nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một cuộc cách mạng xanh chưa từng có. Áp lực từ các thị trường xuất khẩu khó tính, các tiêu chuẩn khắt khe về phát thải và xu hướng kinh tế tuần hoàn đòi hỏi chuỗi giá trị nông sản phải tự làm mới mình từ gốc.

 

Giữa bức tranh chuyển đổi đó, Công ty Cổ phần Mekong Green Tech dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch HĐQT Lê Quý Vinh đã nổi lên như một điểm sáng tiên phong. Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp các giải pháp công nghệ nhiệt phân chậm hiện đại với quy mô nhà máy rộng 4,4 ha, công suất 24 tấn/ngày vận hành theo chuẩn SCADA, Mekong Green Tech còn đang viết nên câu chuyện thương hiệu đầy cảm hứng: Biến phụ phẩm nông nghiệp thành “vàng đen” biochar, kiến tạo những vùng nguyên liệu và nông sản hiệu quả cao gắn liền với mục tiêu thương mại hóa tín chỉ carbon.

 

  1. Triết lý tuần hoàn: Biến gánh nặng môi trường thành tài nguyên chiến lược

Sự ra đời của Mekong Green Tech xuất phát từ một trăn trở rất thực tế tại các vùng nông nghiệp trọng điểm trên cả nước. Mỗi năm, hàng triệu tấn phụ phẩm từ quá trình chế biến nông sản như vỏ trấu, rơm rạ, vỏ cà phê ở Tây Nguyên, vỏ sầu riêng tại Đồng bằng sông Cửu Long, hay thân và vỏ sắn tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, thường bị bỏ phí hoặc xử lý bằng cách đốt thủ công, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và phát thải lượng lớn khí nhà kính.

Thay vì xem đó là rác thải, đội ngũ Mekong Green Tech đã nhìn nhận đây là một nguồn tài nguyên carbon khổng lồ chưa được đánh thức. Bằng việc ứng dụng công nghệ nhiệt phân chậm tiên tiến trong môi trường yếm khí được kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ từ 500oC đến 700 oC, doanh nghiệp đã chế tạo thành công hệ thống lò nung thân thiện với môi trường, giảm tới 95% lượng khí thải và hoàn toàn tự chủ năng lượng nhờ thu hồi khí sinh học (Syngas) phục vụ sấy.

Sản phẩm đầu ra là than sinh học (biochar) sở hữu cấu trúc siêu xốp, diện tích bề mặt lớn và hàm lượng carbon cố định cao. Khi được ứng dụng trở lại vào đất, biochar đóng vai trò như một “miếng bọt biển” giữ nước, giữ dinh dưỡng tối ưu, khử độc tố, ngăn chặn sự xâm nhập của kim loại nặng như Cadimi vào nông sản, đồng thời lưu giữ carbon trong đất hàng trăm năm. Từ một ý tưởng công nghệ, Mekong Green Tech đã cụ thể hóa thành hệ sinh thái sản phẩm thương mại gồm phân bón biochar hữu cơ, chất cải tạo đất chuyên canh và đệm lót sinh học trong chăn nuôi.

 

  1. Dấu ấn chiến lược tại các vùng nông sản trọng điểm: Từ Sơn La, Tây Nguyên đến Đồng bằng sông Cửu Long

Câu chuyện thương hiệu của Mekong Green Tech gắn liền với những bước chân thực tế tại các vùng sinh thái nông nghiệp đặc thù của Việt Nam, nơi doanh nghiệp đang đồng hành cùng các hợp tác xã và trang trại lớn để xây dựng những mô hình nông sản hiệu quả cao.

2.1 Miền núi phía Bắc và Sơn La: Tuần hoàn phụ phẩm cây công nghiệp ngắn ngày

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, nơi diện tích trồng sắn và cây ăn quả lớn, lượng thân cây, vỏ sắn sau chế biến rất dồi dào. Mekong Green Tech đã cung cấp các dòng lò nung biochar quy mô linh hoạt, phù hợp với mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã tại địa phương. Việc đưa lò nung đến tận cơ sở giúp bà con nông dân tự chủ động xử lý triệt để phụ phẩm ngay tại chỗ, tạo ra nguồn phân bón biochar hữu cơ chất lượng cao để bón cho chính các vùng nguyên liệu canh tác dưới tán rừng hoặc cây ăn quả. Nhờ đó, chi phí mua phân bón hóa học giảm mạnh, đất đai được phục hồi độ phì nhiêu sau nhiều vụ canh tác lạm dụng hóa chất.

2.2 Vùng cao nguyên Tây Nguyên: Giải bài toán phụ phẩm cà phê và sầu riêng

Tại Tây Nguyên – thủ phủ cà phê và cây ăn quả của cả nước, bài toán xử lý hàng triệu tấn vỏ cà phê và vỏ sầu riêng luôn là nỗi trăn trở của các doanh nghiệp. Thông qua các giải pháp công nghệ nhiệt phân tự động, Mekong Green Tech đã kết hợp cùng các chủ trang trại lớn biến những khối lượng phụ phẩm cồng kềnh này thành nguồn biochar nguyên chất. Việc phối trộn biochar vào đất đỏ bazan không chỉ giúp giữ ẩm cực tốt trong mùa khô hạn mà còn tạo môi trường cho hệ vi sinh vật có lợi phát triển, giúp những vườn cà phê, sầu riêng đạt năng suất vượt trội, mẫu mã đẹp và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe.

2.3 Đồng bằng sông Cửu Long: Nông nghiệp xanh từ vựa lúa và trái cây

Đặt trụ sở tại Cần Thơ – trái tim của miền Tây Nam Bộ, nhà máy quy mô 4,4 ha của Mekong Green Tech chính là “trái tim” cung ứng biochar công suất lớn (24 tấn/ngày) cho toàn khu vực. Tại đây, doanh nghiệp tận dụng triệt để nguồn trấu, rơm rạ và phụ phẩm trái cây để sản xuất vật liệu cải tạo các vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn. Sự kết hợp giữa biochar và các mô hình canh tác lúa gạo thông minh, giảm phát thải đã giúp nông dân vùng đồng bằng gia tăng giá trị hạt gạo, hướng tới nền nông nghiệp phát thải thấp.

 

  1. Kiến tạo thị trường tín chỉ carbon: Giá trị gia tăng kép cho doanh nghiệp và nông dân

Không dừng lại ở việc cải thiện năng suất cây trồng và chất lượng đất đai, bước đi chiến lược của Mekong Green Tech còn nằm ở tầm nhìn dài hạn gắn liền với thị trường tín chỉ carbon – xu hướng tất yếu của kinh tế toàn cầu giai đoạn 2026 – 2030.

Bản chất của biochar là một cơ chế cô lập carbon sinh học vĩnh cửu. Khi hàng nghìn tấn carbon từ phế phụ phẩm nông nghiệp được chuyển hóa thành dạng than ổn định và vùi sâu vào lòng đất, lượng carbon đó sẽ bị khóa chặt hàng trăm năm thay vì phát thải trở lại khí quyển dưới dạng CO2 hay methane (CH4).

Dựa trên nền tảng công nghệ đo lường minh bạch, quy trình sản xuất đạt chuẩn công nghiệp và hệ thống giám sát tự động hóa, Mekong Green Tech đang phối hợp cùng các đối tác lớn thiết lập cơ sở dữ liệu xác thực để quy đổi lượng carbon lưu giữ thành các chứng chỉ carbon chất lượng cao (như tiêu chuẩn CORC). Điều này mang lại giá trị gia tăng kép vô cùng lớn:

  • Đối với doanh nghiệp và trang trại: Ngoài nguồn thu từ việc bán nông sản chất lượng cao, việc áp dụng quy trình sản xuất gắn liền với biochar giúp các tập đoàn lớn dễ dàng đạt điểm số ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) cao, đáp ứng trọn vẹn tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Mỹ và các quốc gia phát triển.
  • Đối với bà con nông dân và hợp tác xã: Mô hình liên kết chuỗi giá trị do Mekong Green Tech xây dựng mở ra cơ hội mới, giúp người nông dân không chỉ làm giàu từ năng suất cây trồng mà còn có thêm nguồn thu nhập bền vững từ việc tham gia thị trường tín chỉ carbon nội địa và quốc tế.
  1. Tầm nhìn tương lai: Lan tỏa mạng lưới “Nông nghiệp không rác thải”

Câu chuyện thương hiệu của Mekong Green Tech là minh chứng sinh động cho thấy công nghệ cao hoàn toàn có thể hòa quyện cùng nông nghiệp truyền thống để tạo ra những giá trị đột phá. Bằng việc thiết kế đa dạng các dòng thiết bị từ quy mô nông hộ, hợp tác xã cho đến các hệ thống công nghiệp công suất lớn, doanh nghiệp đang hiện thực hóa mục tiêu đưa công nghệ nhiệt phân tiếp cận sâu rộng đến từng vùng nông thôn Việt Nam.

Trong bối cảnh chính sách nhà nước ngày càng khuyến khích mạnh mẽ kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp hữu cơ thông qua các hành lang pháp lý vững chắc, Mekong Green Tech tiếp tục đóng vai trò là “người kiến tạo”, kết nối các nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ, hợp tác xã và nông dân lại với nhau trong một chuỗi giá trị khép kín.

Từ một hạt phân bón biochar nhỏ bé được ép từ phụ phẩm đồng ruộng, Mekong Green Tech đang từng bước đánh thức những “mỏ vàng” tiềm năng của đất mẹ, xây dựng nên những vùng nông sản hiệu quả cao, phát thải thấp và đưa thương hiệu nông nghiệp Việt Nam tự tin vươn xa trên bản đồ kinh tế xanh toàn cầu.

 

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban công nghệ và truyền thông

Đồng hành cùng nhà nông xây dựng nền nông nghiệp xanh từ đất khỏe đến nông sản sạch

Không chỉ cung cấp phân bón vi sinh hữu cơ, Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính đang từng bước xây dựng hướng tiếp cận mới: kết hợp sản phẩm, khoa học kỹ thuật và đồng hành cùng người nông dân, góp phần hình thành những vùng sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững và có giá trị cao.

 

Muốn cây trồng phát triển bền vững, trước hết phải quan tâm đến đất

Trong sản xuất nông nghiệp hiện đại, năng suất không còn là tiêu chí duy nhất quyết định thành công của một mùa vụ. Người sản xuất ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nông sản, độ an toàn, chi phí đầu vào, sức khỏe đất và khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt, khi nông nghiệp đang chuyển dần sang các mô hình sản xuất an toàn, sinh thái và bền vững, việc sử dụng phân bón hợp lý trở thành một trong những yếu tố quan trọng của quy trình canh tác.

Một nền đất được chăm sóc tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển, hỗ trợ cây hấp thu nước và dinh dưỡng, đồng thời góp phần duy trì khả năng sản xuất lâu dài của đất.

Ngược lại, nếu quá chú trọng vào việc cung cấp dinh dưỡng nhanh cho cây mà thiếu quan tâm đến chất hữu cơ, hệ sinh thái đất và cân bằng dinh dưỡng, đất có thể bị suy giảm chất lượng theo thời gian.

Từ thực tế đó, xu hướng sử dụng các sản phẩm phân bón hữu cơ, phân bón vi sinh và các giải pháp dinh dưỡng thân thiện hơn với môi trường ngày càng được người sản xuất quan tâm.

Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính xác định đây không chỉ là cơ hội phát triển sản phẩm, mà còn là một hướng đi lâu dài nhằm đồng hành cùng nhà nông trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất.

 

Từ sản phẩm phân bón đến giải pháp chăm sóc đất và cây trồng

Một trong những định hướng quan trọng của Chung Thịnh Chính là phát triển phân bón vi sinh hữu cơ theo hướng gắn sản phẩm với nhu cầu thực tế của từng vùng sản xuất. Bởi mỗi loại cây trồng có đặc điểm sinh trưởng khác nhau, mỗi vùng đất lại có điều kiện dinh dưỡng và canh tác riêng. Vì vậy, việc sử dụng phân bón cần dựa trên đặc điểm cây trồng, đất đai, mùa vụ và quy trình sản xuất cụ thể.

Phân bón vi sinh hữu cơ, khi được sử dụng đúng sản phẩm, đúng hướng dẫn và phù hợp với điều kiện canh tác, có thể trở thành một thành phần trong chương trình quản lý dinh dưỡng và cải thiện đất theo hướng bền vững.

Định hướng của Chung Thịnh Chính vì thế không dừng lại ở việc đưa sản phẩm ra thị trường.

HTX hướng tới xây dựng một mô hình trong đó sản phẩm đi cùng kiến thức kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng và quá trình theo dõi ngoài đồng ruộng. Đây cũng là điểm quan trọng để tạo dựng niềm tin với người nông dân. Bởi với nhà nông, một sản phẩm tốt không chỉ được đánh giá bằng bao bì hay thông tin quảng bá, mà cần được chứng minh bằng tính phù hợp trong quá trình sử dụng và hiệu quả kinh tế của cả quy trình sản xuất.

 

Kết hợp cùng chuyên gia, đưa khoa học đến gần hơn với đồng ruộng

Để nâng cao chất lượng chuyên môn, Chung Thịnh Chính định hướng phối hợp với các chuyên gia của Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật, kiểm chứng thực tế và chuyển giao các giải pháp phù hợp đến người sản xuất.

Sự kết hợp giữa một đơn vị trực tiếp sản xuất – kinh doanh nông nghiệp với đội ngũ chuyên gia có chuyên môn được kỳ vọng tạo ra cầu nối hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất. Thay vì để các giải pháp kỹ thuật chỉ nằm trong tài liệu nghiên cứu, mục tiêu là đưa kiến thức đó đến gần hơn với những người trực tiếp làm ra nông sản.

Quá trình này có thể bắt đầu từ việc tìm hiểu điều kiện đất đai, cây trồng và phương thức canh tác; lựa chọn giải pháp phù hợp; xây dựng mô hình; theo dõi sự phát triển của cây; ghi nhận kết quả và tiếp tục điều chỉnh quy trình khi cần thiết.

Thông qua thực tiễn sản xuất, những kinh nghiệm của nhà nông cũng có thể được phản hồi ngược trở lại cho quá trình hoàn thiện giải pháp.

Khoa học không thay thế kinh nghiệm của người nông dân, mà giúp kinh nghiệm ấy được chuẩn hóa, kiểm chứng và phát huy hiệu quả tốt hơn.

Ông Nguyễn Quang Chung, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX CTC đang thảo luận cùng TS Nguyễn Xuân Hòa, Chuyên gia phân bón của VITAD-AGRI

 

Hướng tới những vùng đặc sản của Thái Nguyên

Thái Nguyên có nhiều sản phẩm nông nghiệp mang tính đặc trưng, trong đó nổi bật là chè cùng nhiều vùng sản xuất na, bưởi, trám và lúa nếp bao thai. Đây là những ngành hàng có tiềm năng phát triển thành các vùng nguyên liệu chất lượng cao nếu được tổ chức sản xuất bài bản, kiểm soát tốt đầu vào và xây dựng được chuỗi liên kết ổn định.

Với cây chè, yêu cầu về chất lượng nguyên liệu, an toàn thực phẩm và quy trình chăm sóc ngày càng được chú trọng. Việc quản lý đất, dinh dưỡng và sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng vùng nguyên liệu.

Ở các vùng trồng na, bưởi và trám, cây lâu năm cần một chế độ chăm sóc có tính liên tục, trong đó sức khỏe đất và bộ rễ là những yếu tố cần được quan tâm trong suốt chu kỳ sản xuất.

Trong khi đó, lúa nếp bao thai không chỉ là cây lương thực mà còn gắn với giá trị đặc sản địa phương. Việc xây dựng quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát vật tư đầu vào và nâng cao chất lượng hạt gạo sẽ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm.

Đây chính là những lĩnh vực mà Chung Thịnh Chính mong muốn từng bước tiếp cận, không chỉ với vai trò nhà cung cấp phân bón mà còn là đối tác đồng hành của các hộ nông dân, tổ hợp tác và hợp tác xã trong xây dựng vùng sản xuất.

 

Mỗi vùng trồng cần một quy trình phù hợp

Một trong những nguyên tắc được Chung Thịnh Chính hướng tới là không áp dụng máy móc một công thức cho tất cả cây trồng.

Cây chè có nhu cầu khác cây ăn quả. Na có đặc điểm khác bưởi. Cây lâu năm lại có yêu cầu khác với cây lúa.

Ngay cả cùng một loại cây, nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi theo tuổi cây, mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng, điều kiện đất và mục tiêu sản xuất. Vì vậy, việc sử dụng phân bón vi sinh hữu cơ cần được đặt trong một quy trình tổng thể, kết hợp quản lý đất, nước, dinh dưỡng, sinh vật gây hại và các biện pháp canh tác phù hợp.

Định hướng này cũng mở ra khả năng xây dựng các mô hình trình diễn tại địa phương. Từ một số hộ sản xuất ban đầu, HTX có thể phối hợp với các tổ chức sản xuất lựa chọn diện tích phù hợp để triển khai mô hình, theo dõi quá trình canh tác và đánh giá các chỉ tiêu cần thiết. Khi có kết quả thực tế, mô hình có thể trở thành địa điểm tham quan, trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng.

Một mô hình tốt có thể thuyết phục người nông dân hiệu quả hơn hàng nghìn lời quảng cáo.

 

Từ sản xuất an toàn đến câu chuyện VietGAP, OCOP và Organic

Thị trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nông sản. Người tiêu dùng muốn biết sản phẩm được trồng ở đâu, sản xuất như thế nào và có đảm bảo an toàn hay không.

Đó cũng là lý do nhiều vùng sản xuất quan tâm đến VietGAP, phát triển sản phẩm OCOP và xa hơn là hướng tới sản xuất hữu cơ.

Trong hành trình này, phân bón vi sinh hữu cơ có thể đóng vai trò là một trong những đầu vào của quy trình sản xuất phù hợp.

Tuy nhiên, không thể đồng nhất việc sử dụng phân bón hữu cơ hoặc vi sinh với việc sản phẩm mặc nhiên đạt chứng nhận VietGAP, OCOP hay Organic.

Mỗi tiêu chuẩn và chương trình đều có hệ thống yêu cầu riêng. Để đạt được chứng nhận hoặc đáp ứng các tiêu chí tương ứng, người sản xuất cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung từ giống, đất, nước, vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc, kiểm soát dịch hại, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến hồ sơ và truy xuất nguồn gốc.

Chung Thịnh Chính xác định vai trò của mình là đồng hành về sản phẩm, kỹ thuật và giải pháp đầu vào, góp phần hỗ trợ nhà nông xây dựng nền tảng sản xuất phù hợp với những yêu cầu đó.

Đây là một cách tiếp cận thực tế, bởi mục tiêu cuối cùng không phải là một khẩu hiệu “hữu cơ” trên bao bì, mà là một quy trình sản xuất có trách nhiệm và có khả năng kiểm chứng.

 

Xây dựng thương hiệu từ niềm tin của người nông dân

Trong lĩnh vực nông nghiệp, thương hiệu không thể hình thành chỉ bằng truyền thông.

Một thương hiệu phân bón muốn tồn tại lâu dài cần có sản phẩm phù hợp, chất lượng ổn định, hướng dẫn kỹ thuật rõ ràng và dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng.

Chung Thịnh Chính có thể xây dựng chiến lược thị trường theo hướng phát triển mạng lưới đại lý song song với tiếp cận trực tiếp các vùng sản xuất. Tại mỗi địa phương, HTX phối hợp với các hộ nông dân và tổ chức sản xuất xây dựng mô hình; tổ chức hội thảo đầu bờ; hướng dẫn sử dụng; ghi nhận phản hồi và từng bước hình thành những vùng khách hàng trung thành dựa trên kết quả thực tế. Cùng với đó, website, Facebook, TikTok và YouTube của HTX sẽ trở thành những kênh truyền tải kiến thức về đất, cây trồng, phân bón và câu chuyện vùng sản xuất.

Những hình ảnh từ đồng ruộng, nhật ký mô hình, chia sẻ của nông dân và kết quả thực tế sẽ tạo nên một hệ thống truyền thông gần gũi, minh bạch và có sức thuyết phục.

 

Khát vọng tạo dựng những vùng nông sản giá trị cao

Với Chung Thịnh Chính, câu chuyện về phân bón vi sinh hữu cơ không chỉ bắt đầu từ nhà máy và kết thúc ở một bao sản phẩm được giao đến khách hàng.

Hành trình ấy cần tiếp tục trên đồng ruộng – nơi người nông dân trực tiếp sử dụng sản phẩm và quyết định hiệu quả cuối cùng của một giải pháp.

Sự phối hợp giữa HTX Chung Thịnh Chính và các chuyên gia VITAD-AGRI trong nghiên cứu khoa học, kiểm chứng thực tế và chuyển giao kỹ thuật là một hướng đi nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, đưa những giải pháp phù hợp đến gần hơn với bà con nông dân.

Từ vùng chè Thái Nguyên đến những vườn na, bưởi, trám và cánh đồng lúa nếp bao thai, mỗi vùng đất đều có thể trở thành một câu chuyện riêng về hành trình chuyển đổi nông nghiệp. Ở đó, đất được quan tâm hơn, cây được chăm sóc khoa học hơn, người nông dân được hỗ trợ tốt hơn và nông sản có thêm cơ hội gia tăng giá trị.

VietGAP có thể là một bước đi trong hành trình sản xuất an toàn. OCOP có thể mở ra cơ hội nâng tầm sản phẩm địa phương. Còn sản xuất hữu cơ là một hướng phát triển dài hạn, đòi hỏi quy trình chặt chẽ và sự kiên trì của cả vùng sản xuất.

Chung Thịnh Chính mong muốn góp một phần vào hành trình ấy bằng sản phẩm phân bón vi sinh hữu cơ, kiến thức kỹ thuật và sự đồng hành lâu dài với nhà nông.

Bởi suy cho cùng, giá trị của một sản phẩm phân bón không chỉ nằm ở lượng sản phẩm bán ra thị trường, mà còn ở những giá trị được tạo nên sau đó: một mảnh đất được chăm sóc tốt hơn, một vùng nguyên liệu được tổ chức tốt hơn, một sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn và một cuộc sống tốt hơn cho người nông dân.

Từ nhà máy đến đồng ruộng – từ đất khỏe đến nông sản sạch – Chung Thịnh Chính hướng tới trở thành người bạn đồng hành cùng nhà nông trên hành trình xây dựng nền nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững.

 

Thực hiện: Thành Vinh; Phó ban công nghệ và truyền thông

Vai trò của đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ đối với nguồn nhân lực doanh nghiệp và hợp tác xã trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là chiến lược sống còn để nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại Việt Nam. Các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước như Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ hay Quyết định số 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất trong thực tiễn triển khai không nằm ở cơ chế chính sách hay nguồn vốn, mà xuất phát từ chất lượng nguồn nhân lực.

 

  1. Chuyển dịch tư duy sản xuất và yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực nông nghiệp hữu cơ

Hầu hết cán bộ quản lý, kỹ thuật viên tại các doanh nghiệp nông nghiệp và hợp tác xã (HTX) hiện nay vẫn mang tư duy canh tác truyền thống (lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vô cơ). Việc chuyển đổi sang mô hình NNHC đòi hỏi một cuộc cách mạng về nhận thức, kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành chuẩn hóa. Trong bức tranh đó, công tác đào tạo, tập huấn đóng vai trò là “chìa khóa” cốt lõi. Bài viết này phân tích tầm quan trọng của việc đào tạo NNHC cho đội ngũ nhân sự nòng cốt tại các doanh nghiệp và HTX, đồng thời ghi nhận vai trò tiên phong của Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong công tác đào tạo chuyên môn, cùng sự tham gia thực tiễn đầy quyết tâm của các đơn vị học viên tiêu biểu như Công ty Cổ phần Mekong Green TechHợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính.

 

  1. Bản chất và tầm quan trọng của đào tạo nông nghiệp hữu cơ đối với doanh nghiệp và hợp tác xã

Nông nghiệp hữu cơ không đơn thuần là “không dùng hóa chất”, mà là một hệ thống quản lý toàn diện nhằm khôi phục và duy trì sự cân bằng sinh thái của hệ sinh thái đất – nước – cây trồng – vật nuôi. Đối với các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp và HTX, việc đào tạo bài bản mang lại những giá trị chiến lược sau:

– Chuẩn hóa tư duy hệ thống và quản trị chuỗi giá trị

Cán bộ, nhân viên là những người trực tiếp hoạch định kế hoạch sản xuất, xây dựng quy trình kỹ thuật và kiểm soát chất lượng đầu ra. Đào tạo giúp họ thấu hiểu các tiêu chuẩn hữu cơ khắt khe trong nước và quốc tế (như TCVN, USDA, EU organic), từ đó thiết lập tư duy quản trị theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu cải tạo đất, chọn giống, chăm sóc đến thu hoạch và chế biến sâu.

– Giải quyết bài toán tuân thủ pháp lý và tiêu chuẩn ESG

Các thị trường xuất khẩu lớn cũng như phân khúc tiêu dùng cao cấp trong nước đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch hóa quy trình sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường – xã hội – quản trị (ESG). Đào tạo giúp đội ngũ nhân sự nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật, biết cách lập hồ sơ minh bạch nguồn gốc (traceability) và kiểm soát dư lượng kim loại nặng, hóa chất độc hại.

  • Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kinh tế tuần hoàn

Nhân sự qua đào tạo bài bản sẽ có khả năng làm chủ các công nghệ mới như sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, công nghệ nhiệt phân sinh khối (Biochar), hay tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, phụ phẩm sắn) để tái tạo dinh dưỡng cho đất. Điều này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính và gia tăng nguồn thu từ tín chỉ carbon.

 

  1. Vai trò tiên phong của Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong công tác đào tạo

Để công tác đào tạo NNHC đạt hiệu quả thực chất, việc sở hữu một đội ngũ chuyên gia giảng dạy am hiểu cả lý luận khoa học lẫn thực tiễn sản xuất là điều kiện tiên quyết. Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) đã khẳng định vai trò là đơn vị sự nghiệp khoa học và đào tạo hàng đầu, đóng vai trò “bà đỡ” tri thức cho cộng đồng doanh nghiệp và HTX nông nghiệp.

– Cung cấp đội ngũ giảng viên chất lượng cao: VITAD-AGRI quy tụ mạng lưới các nhà khoa học, giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thổ nhưỡng, bảo vệ thực vật, vi sinh học nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Các giảng viên của Viện không chỉ truyền đạt hàn lâm mà còn mang đến những kinh nghiệm thực chiến đắt giá từ các dự án khảo nghiệm, chuỗi giá trị liên kết rộng khắp cả nước.

– Xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa và thực tiễn: Các khóa tập huấn do VITAD-AGRI thiết kế luôn bám sát nhu cầu thực tế của thị trường và đặc thù sinh thái từng vùng miền. Chương trình kết hợp hài hòa giữa kiến thức nền tảng về sinh thái đất, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kiểm soát chất lượng vi sinh vật với các kỹ năng quản trị kinh doanh nông nghiệp hiện đại.

– Cầu nối chuyển giao công nghệ: Thông qua các chương trình tập huấn, VITAD-AGRI trực tiếp chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới nhất đến các đơn vị sản xuất, giúp rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra đến đồng ruộng và nhà máy chế biến.

 

  1. Thực tiễn học tập và ứng dụng từ các đơn vị tiên phong: Mekong Green Tech và HTX Chung Thịnh Chính

Hiệu quả của công tác đào tạo chỉ được đo lường chính xác qua sự chuyển hóa trong hành động thực tiễn của các học viên. Điển hình cho tinh thần cầu thị và khát vọng chuyển đổi xanh là sự tham gia tích cực của Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính vào các chương trình tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu.

Công ty Cổ phần Mekong Green Tech: Tư duy công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn

– Là doanh nghiệp hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực giải pháp nhiệt phân sinh khối, sản xuất than sinh học (Biochar) và xử lý phụ phẩm nông nghiệp, đội ngũ nhân sự kỹ thuật của Mekong Green Tech luôn chủ động tham gia các khóa cập nhật kiến thức chuyên môn do VITAD-AGRI và các cơ quan chuyên ngành tổ chức.

– Ứng dụng thực tiễn: Nhờ được đào tạo bài bản về cấu trúc đất, cơ chế trao đổi ion và tính chất hóa lý của Biochar, đội ngũ Mekong Green Tech đã nghiên cứu và thương mại hóa thành công các giải pháp tận dụng phụ phẩm (như vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, vỏ và thân sắn tại Sơn La) để sản xuất vật liệu cải tạo đất chuyên canh và xử lý kim loại nặng. Sự kết hợp giữa nền tảng kiến thức khoa học nông nghiệp và công nghệ tự động hóa đã giúp doanh nghiệp phát triển các dự án quy mô lớn, gắn kết hiệu quả với các trang trại lớn như Đà Lạt Milk trong việc giám sát và cải thiện môi trường chuồng nuôi.

Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính: Đổi mới tư duy sản xuất tại địa phương

Đóng chân tại xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, HTX Chung Thịnh Chính là mô hình tiêu biểu cho thấy tầm quan trọng của việc đưa tri thức khoa học về cơ sở.

– Ứng dụng thực tiễn: Cán bộ và xã viên của HTX đã tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác dưới tán rừng, quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và tiêu chuẩn hóa chất lượng nông sản. Kiến thức thu được từ các chuyên gia đã giúp HTX quy hoạch vùng trồng dược liệu và cây ăn quả theo hướng hữu cơ, tối ưu hóa quy trình chăm sóc, đồng thời xây dựng thương hiệu, website https://chungthinhchinh.vn và nhận diện bao bì chuyên nghiệp. Qua đó, HTX không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra sinh kế bền vững cho hàng chục nông hộ thành viên.

 

Mekong Green Tech và HTX Chung Thịnh Chính tham gia tập huấn về Nông nghiệp hữu cơ do VITAD-AGRI giảng dạy

 

  1. Thách thức và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nông nghiệp hữu cơ trong giai đoạn tới

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, công tác đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ cho doanh nghiệp và HTX hiện nay vẫn đối mặt với một số rào cản:

  1. Tính biến động của nguồn lực lao động: Nhân sự tại các HTX và nông hộ thường có trình độ không đồng đều, dễ dao động theo thời vụ, gây khó khăn cho việc duy trì kiến thức chuyên sâu dài hạn.
  2. Sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành tại chỗ: Đôi khi các chương trình tập huấn còn mang tính lý thuyết diện rộng, thiếu các mô hình thực hành cầm tay chỉ việc ngay trên đồng ruộng của đơn vị.

Để khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo trong thời gian tới, cần tập trung đồng bộ các giải pháp:

– Đổi mới phương thức đào tạo theo mô hình “Đào tạo kèm cặp thực tế” (Mentorship): Các chuyên gia từ các viện nghiên cứu như VITAD-AGRI cần có thời gian đồng hành trực tiếp tại hiện trường doanh nghiệp/HTX để hướng dẫn xử lý các vấn đề phát sinh cụ thể trong đất, nước và dịch bệnh.

– Tăng cường số hóa học liệu: Xây dựng các nền tảng học tập trực tuyến, video hướng dẫn trực quan để cán bộ công nhân viên có thể tự ôn tập, tra cứu quy trình kỹ thuật mọi lúc, mọi nơi.

– Đẩy mạnh liên kết “Ba nhà” (Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp/HTX): Đảm bảo các chương trình tập huấn được đặt hàng trực tiếp từ nhu cầu thực tế của thị trường và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, gắn kết chặt chẽ quyền lợi kinh tế với việc tuân thủ quy chuẩn hữu cơ.

 

  1. Kết luận

Đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ không chỉ là hoạt động bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn mà là khoản đầu tư chiến lược mang tính nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam. Sự đóng góp thầm lặng nhưng bền bỉ của các đơn vị nghiên cứu, đào tạo như Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong việc cung cấp đội ngũ giảng viên chất lượng cao chính là “bệ phóng” tri thức vững chắc. Song hành cùng đó, sự dấn thân, cầu thị và áp dụng quyết liệt vào thực tiễn sản xuất của các đơn vị tiên phong như Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính là minh chứng sống động cho thấy hiệu quả thiết thực của mô hình đào tạo gắn liền với thực tiễn. Đầu tư đúng mức cho con người hôm nay chính là chìa khóa để nông nghiệp Việt Nam vươn xa, tự tin hội nhập và phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên kinh tế xanh toàn cầu.

 

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban công nghệ và truyền thông VITAD-AGRI, CTV của https://mkgreen.vnhttps://chungthinhchinh.vn

 

 

Thu gom, lưu trữ nguyên vật liệu đúng cách, đảm bảo chất lượng, không gây ô nhiễm môi trường

Trong quá trình hoàn thiện và đưa Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh vào vận hành, công tác thu gom, phân loại và lưu trữ nguyên vật liệu được xác định là một trong những khâu quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất và công tác bảo vệ môi trường. Việc tổ chức khu vực tập kết khoa học, kiểm soát độ ẩm, hạn chế phát tán bụi, nước rỉ và mùi phát sinh đang được chú trọng nhằm hướng tới quy trình sản xuất an toàn, ổn định và bền vững.

 

  1. Kiểm soát nguyên liệu từ khâu đầu vào

Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh được đầu tư theo định hướng tận dụng nguồn nguyên liệu hữu cơ, tạo ra sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp và góp phần nâng cao giá trị của các nguồn phụ phẩm. Cùng với việc đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất, công tác quản lý nguyên vật liệu đầu vào giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Để bảo đảm quá trình sản xuất diễn ra ổn định, nguyên liệu trước khi đưa vào dây chuyền cần được kiểm tra, phân loại và tập kết tại khu vực phù hợp. Việc thu gom không chỉ nhằm bảo đảm đủ nguyên liệu cho sản xuất mà còn giúp kiểm soát chất lượng, hạn chế tạp chất và giảm nguy cơ phát sinh các vấn đề về môi trường.

Theo yêu cầu của quy trình sản xuất, nguyên liệu được tiếp nhận theo từng nhóm, kiểm tra tình trạng trước khi đưa vào khu vực lưu trữ hoặc sơ chế. Những nguyên liệu không phù hợp cần được phân loại riêng, tránh để lẫn với nguyên liệu đạt yêu cầu.

Đây là bước có ý nghĩa quan trọng bởi chất lượng nguyên liệu đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phối trộn, xử lý và tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh. Khi nguyên liệu được kiểm soát ngay từ đầu, dây chuyền sẽ hoạt động ổn định hơn, đồng thời giảm nguy cơ phải xử lý lại hoặc phát sinh chất thải không cần thiết.

 

  1. Tổ chức khu vực lưu trữ khoa học

Qua hình ảnh thực tế tại khu vực nhà máy, có thể thấy các khu vực nhà xưởng, sân bãi và khu vực chứa nguyên liệu đang được tổ chức theo hướng phục vụ đồng bộ cho hoạt động sản xuất. Các nhà xưởng có diện tích rộng, nền bê tông, mái che và hệ thống đường nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận, vận chuyển và tập kết nguyên liệu.

Đối với nguyên liệu hữu cơ, việc lưu trữ cần đặc biệt chú ý đến độ ẩm, khả năng phát sinh mùi và nguy cơ tạo nước rỉ. Vì vậy, nguyên liệu cần được tập kết tại khu vực có mái che, nền chắc chắn, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với nước mưa và có phương án thu gom phù hợp.

Việc phân chia các khu vực lưu trữ theo từng loại nguyên liệu cũng giúp công tác quản lý trở nên thuận tiện hơn. Nguyên liệu mới tiếp nhận, nguyên liệu đang chờ xử lý và nguyên liệu đã qua sơ chế cần được nhận diện rõ ràng. Cách tổ chức này giúp hạn chế tình trạng nhầm lẫn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kiểm kê và cấp nguyên liệu cho dây chuyền.

Một nguyên tắc quan trọng trong lưu trữ là không để nguyên liệu cản trở lối đi, đường vận chuyển hoặc khu vực thao tác của máy móc. Khoảng cách phù hợp giữa các đống nguyên liệu và thiết bị không chỉ phục vụ sản xuất mà còn tạo điều kiện cho việc kiểm tra, vệ sinh và xử lý sự cố khi cần thiết.

 

  1. Hạn chế tác động của thời tiết và độ ẩm

Nguyên liệu hữu cơ thường chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện thời tiết. Nếu để ngoài trời trong thời gian dài, nguyên liệu có thể bị tác động bởi mưa, nắng và độ ẩm môi trường, dẫn đến thay đổi tính chất và gây khó khăn cho quá trình xử lý.

Do đó, khu vực lưu trữ cần được bố trí mái che phù hợp, đồng thời bảo đảm nền kho có khả năng thoát nước tốt. Vào mùa mưa, việc kiểm tra mái, tường, nền và hệ thống thoát nước cần được thực hiện thường xuyên để hạn chế nước mưa xâm nhập vào khu vực chứa nguyên liệu.

Trong trường hợp nguyên liệu có độ ẩm cao, cần có phương án kiểm soát và xử lý phù hợp trước khi đưa vào dây chuyền. Không nên để nguyên liệu ẩm ướt tích tụ quá lâu tại một vị trí mà không có biện pháp quản lý, bởi điều này có thể làm phát sinh mùi, ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu và tạo điều kiện cho các quá trình phân hủy không kiểm soát.

Việc kiểm soát độ ẩm vì vậy không chỉ là yêu cầu về chất lượng mà còn là một phần của công tác bảo vệ môi trường.

 

  1. Thu gom và phân loại ngay tại nguồn

Một trong những giải pháp quan trọng để giảm lượng chất thải phát sinh trong nhà máy là thực hiện thu gom và phân loại ngay tại nguồn.

Trong quá trình tiếp nhận nguyên liệu, những thành phần không phù hợp cần được tách riêng. Tạp chất như đất đá, vật liệu vô cơ, bao bì hỏng hoặc các vật liệu không thuộc nhóm nguyên liệu sản xuất cần được thu gom theo từng nhóm để có phương án xử lý phù hợp.

Việc phân loại tại nguồn giúp tránh tình trạng các loại chất thải bị trộn lẫn với nguyên liệu hữu cơ. Đây cũng là cơ sở để tăng khả năng tận dụng các nguồn vật liệu có giá trị, đồng thời giảm khối lượng chất thải phải xử lý.

Tại khu vực sản xuất, công nhân cần được hướng dẫn rõ vị trí tập kết của từng loại nguyên liệu và chất thải. Các thùng chứa, khu vực tập kết hoặc vị trí thu gom cần có dấu hiệu nhận biết phù hợp để hạn chế nhầm lẫn.

Cùng với đó, việc vệ sinh khu vực tiếp nhận và lưu trữ cần được thực hiện định kỳ. Nguyên liệu rơi vãi trên nền phải được thu gom kịp thời, tránh để tích tụ lâu ngày gây mất vệ sinh, phát sinh mùi hoặc ảnh hưởng đến việc di chuyển của phương tiện, máy móc.

 

  1. Kiểm soát mùi, bụi và nước rỉ

Đối với một nhà máy sử dụng nguyên liệu hữu cơ, kiểm soát mùi và bụi là nội dung không thể tách rời khỏi công tác quản lý nguyên vật liệu.

Khi vận chuyển, đổ hoặc xúc nguyên liệu, đặc biệt là nguyên liệu có hàm lượng vật chất khô cao, bụi có thể phát sinh. Vì vậy, cần tổ chức thao tác hợp lý, hạn chế việc đổ nguyên liệu từ độ cao lớn và thực hiện vệ sinh thường xuyên tại các khu vực có khả năng tích tụ bụi.

Trong những điều kiện cần thiết, nhà máy có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp để hạn chế phát tán bụi, đồng thời trang bị phương tiện bảo hộ lao động cho người trực tiếp làm việc.

Đối với nguyên liệu có độ ẩm cao, nguy cơ phát sinh nước rỉ cũng cần được kiểm soát. Nền khu vực lưu trữ cần được thiết kế và duy trì phù hợp để nước không chảy tràn ra khu vực xung quanh. Nước phát sinh phải được thu gom và xử lý theo quy định, tuyệt đối hạn chế tình trạng xả trực tiếp ra môi trường.

Bên cạnh đó, việc kiểm soát thời gian lưu trữ cũng rất quan trọng. Nguyên liệu cần được luân chuyển hợp lý, tránh tồn đọng quá lâu. Phương án nhập trước – sử dụng trước có thể được áp dụng để nâng cao hiệu quả quản lý và hạn chế nguy cơ nguyên liệu bị biến đổi trong quá trình lưu kho.

 

  1. Bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển

Hình ảnh tại nhà máy cho thấy xe cơ giới và các thiết bị vận chuyển được sử dụng để phục vụ quá trình tập kết, xử lý nguyên liệu. Do đó, công tác tổ chức giao thông nội bộ cần được thực hiện khoa học.

Khu vực dành cho xe vận chuyển nguyên liệu cần được phân định tương đối rõ với khu vực dành cho người lao động. Khi máy xúc, xe nâng hoặc phương tiện cơ giới hoạt động, người lao động cần tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn và hướng dẫn của người phụ trách.

Nguyên liệu sau khi thu gom cần được vận chuyển theo tuyến phù hợp, tránh đi qua những khu vực không cần thiết. Cách tổ chức này vừa giảm thời gian vận chuyển, vừa hạn chế nguyên liệu rơi vãi trên đường nội bộ.

Đặc biệt, tại các khu vực có dây chuyền, băng tải và thiết bị cơ khí, việc đưa nguyên liệu vào sản xuất phải được thực hiện đúng quy trình. Không tự ý đưa nguyên liệu vào thiết bị khi máy chưa ở trạng thái sẵn sàng hoặc khi chưa có sự kiểm tra của người phụ trách.

 

  1. Gắn quản lý nguyên liệu với bảo vệ môi trường

Quản lý nguyên liệu đúng cách không chỉ giúp nhà máy duy trì nguồn cung ổn định mà còn mang lại những lợi ích rõ rệt về môi trường.

Khi nguyên liệu được thu gom đầy đủ, phân loại đúng và lưu trữ trong điều kiện phù hợp, lượng nguyên liệu thất thoát sẽ được giảm xuống. Đồng thời, nguy cơ phát sinh mùi, bụi, nước rỉ và chất thải thứ cấp cũng được kiểm soát tốt hơn.

Đây cũng là yếu tố góp phần xây dựng hình ảnh một cơ sở sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh và có trách nhiệm. Việc tận dụng nguyên liệu hữu cơ để sản xuất phân bón có thể tạo ra vòng tuần hoàn có ý nghĩa đối với ngành nông nghiệp: nguồn nguyên liệu được thu gom, xử lý và chuyển hóa thành sản phẩm phục vụ đất và cây trồng.

Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả, toàn bộ quá trình phải được quản lý đồng bộ, từ khâu tiếp nhận nguyên liệu, lưu trữ, sơ chế, sản xuất đến đóng gói và bảo quản thành phẩm.

 

  1. Nâng cao ý thức người lao động

Bên cạnh cơ sở vật chất và thiết bị, yếu tố con người có vai trò quyết định trong việc duy trì quy trình thu gom và lưu trữ nguyên liệu.

Người lao động cần được hướng dẫn về cách nhận biết từng nhóm nguyên liệu, phương pháp thu gom, vị trí tập kết, yêu cầu vệ sinh và các quy định an toàn khi vận hành phương tiện, thiết bị.

Những thao tác tưởng như đơn giản như không để nguyên liệu chắn lối đi, thu gom ngay vật liệu rơi vãi, đóng kín hoặc che chắn nguyên liệu phù hợp, kiểm tra khu vực sau mỗi ca làm việc… nếu được thực hiện thường xuyên sẽ tạo thành quy trình quản lý hiệu quả.

Nhà máy cũng cần duy trì việc kiểm tra định kỳ để phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến nền kho, mái che, hệ thống thoát nước, khu vực tập kết và thiết bị vận chuyển. Những bất thường cần được xử lý kịp thời, tránh để phát sinh thành sự cố lớn.

 

  1. Hướng tới quy trình sản xuất sạch và bền vững

Việc đầu tư hoàn thiện nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh không chỉ dừng lại ở việc lắp đặt máy móc và đưa dây chuyền vào hoạt động. Một nhà máy vận hành hiệu quả cần có hệ thống quản lý nguyên liệu, sản xuất và môi trường được tổ chức đồng bộ.

Trong đó, thu gom và lưu trữ nguyên vật liệu đúng cách là mắt xích quan trọng. Đây là nền tảng để duy trì chất lượng đầu vào, bảo đảm hoạt động ổn định của dây chuyền và hạn chế những tác động không mong muốn đến môi trường.

Với hệ thống nhà xưởng, khu vực tập kết và thiết bị đang từng bước được hoàn thiện, việc xây dựng quy trình quản lý nguyên liệu bài bản sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà máy trong giai đoạn tiếp theo.

Mục tiêu hướng đến là hình thành một quy trình khép kín, trong đó nguyên liệu được tiếp nhận có kiểm soát, phân loại, lưu trữ đúng điều kiện, đưa vào sản xuất theo kế hoạch và chất thải được thu gom, xử lý phù hợp. Qua đó, nhà máy không chỉ tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần thực hiện mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên hữu cơ, giảm chất thải và thúc đẩy phương thức sản xuất thân thiện với môi trường.

 

Việc thu gom, lưu trữ nguyên vật liệu đúng cách vì thế không đơn thuần là một yêu cầu trong vận hành nhà máy, mà còn là giải pháp quan trọng để bảo đảm chất lượng sản phẩm, an toàn lao động và trách nhiệm với môi trường. Khi từng khâu được kiểm soát chặt chẽ, từ nguyên liệu đầu vào đến quá trình sản xuất, Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh sẽ có thêm nền tảng để vận hành ổn định, hiệu quả và phát triển theo hướng bền vững.

Một trong những Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đã thực hiện tốt công tác này mà những ai quan tâm có thể học hỏi:

Hợp tác xã (HTX) Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính

– Website:  https://chungthinhchinh.com/

– Lĩnh vực: Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh dạng lỏng và dạng rắn, chế phẩm sinh học….

 

Ứng dụng quản trị ESG trong thực hiện nghị quyết 70/NQ-TW về an ninh năng lượng quốc gia và chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030 (quyết định 926/QĐ-TTg)

Đây là sự đột phá công nghệ Năng lượng sinh học (Bioenergy) và Than sinh học (Biochar) từ giải pháp thương mại toàn diện mà nhiều công ty đã thực hiện trong đó điển hình là Công ty Cổ phần Mekong Green Tech

  1. BỐI CẢNH NĂNG LƯỢNG VÀ THÁCH THỨC CHUYỂN ĐỔI XANH GIAI ĐOẠN 2026 – 2030

Bước vào giai đoạn 2026 – 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước “tác động kép” từ hai định hướng chiến lược quốc gia lớn:

  • Một mặt, Nghị quyết số 70/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cấp bách về việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy dịch chuyển năng lượng theo hướng xanh hóa, tăng cường tỷ trọng năng lượng tái tạo, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.
  • Mặt khác, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 926/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030, tạo cơ chế chính sách thúc đẩy các khối tư nhân tích cực áp dụng tiêu chuẩn Quản trị Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) và mô hình kinh tế tuần hoàn.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đang đặt các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản và công nghiệp phụ trợ trước những rào cản tài chính và kỹ thuật không nhỏ:

  1. Chi phí năng lượng tăng cao: Giá điện sản xuất và nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu DO/FO) biến động phức tạp, đe dọa trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
  2. Áp lực từ hàng rào kỹ thuật quốc tế: Các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản liên tục thắt chặt quy định về chứng nhận footprint carbon, chứng chỉ ESG và áp thuế carbon (như cơ chế CBAM).
  3. Thách thức xử lý phế phụ phẩm: Hàng triệu tấn phế phụ phẩm nông – lâm nghiệp (trấu, vỏ cà phê, vỏ sắn, mụn dừa, gỗ vụn) bị bỏ phí hoặc đốt xả thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Trước thực trạng đó, nhiều công ty, trong đó có Công ty Cổ phần Mekong Green Tech (MKGREEN) đã khẳng định vị thế đơn vị tiên phong khi thương mại hóa thành công giải pháp Tích hợp Năng lượng Sinh học (Bioenergy) và Than sinh học (Biochar) – mô hình “một mũi tên trúng hai đích”, giải quyết triệt để bài toán an ninh năng lượng nội bộ và nâng cao năng lực chuẩn hóa ESG cho doanh nghiệp.

 

  1. BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG NỘI BỘ VÀ TÍNH TƯƠNG THÍCH VỚI NGHỊ QUYẾT 70/NQ-TW

Nghị quyết 70/NQ-TW nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng mới là giải pháp then chốt để bảo đảm an ninh năng lượng, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu”. Mô hình Nhiệt phân (Pyrolysis) của Mekong Green Tech hiện thực hóa tinh thần này bằng cách biến rác thải/phế phụ phẩm nông nghiệp thành hai dòng năng lượng thương mại giá trị cao:

2.1. Khí sinh học (Syngas) và Nhiệt năng tự dùng

Trong quá trình nhiệt phân phụ phẩm ở nhiệt độ 500 – 700oC trong điều kiện thiếu oxy, hệ thống thiết bị sản xuất biochar thu hồi lượng lớn dòng khí tổng hợp (Syngas) giàu CO, H2 và CH4. Khí này được cấp ngược lại làm nhiên liệu đốt cho các lò sấy, lò hơi (boiler) hoặc phát điện nội bộ. Giải pháp này giúp các nhà máy chế biến nông sản tự chủ từ 60 – 100% nhu cầu nhiệt năng sấy, giảm phụ thuộc hoàn toàn vào lưới điện quốc gia và than đá, đúng theo định hướng tự chủ năng lượng của Nghị quyết 70/NQ-TW.

2.2. Than sinh học (Biochar) – Nhiên liệu xanh và Vật liệu lưu trữ Carbon

Sản phẩm đầu ra thứ hai của quá trình là Than sinh học (Biochar). Ngoài việc được ứng dụng làm chất cải tạo đất cao cấp, Biochar còn đóng vai trò là nguồn nhiên liệu sinh học rắn có chỉ số nhiệt lượng cao (trên 5.500 – 6.500 kcal/kg), hoàn toàn có khả năng thay thế than đá trong các lò đốt công nghiệp mà không phát thải khí lưu huỳnh (SOx).

 

  1. GIẢI PHÁP THƯƠNG MẠI HÓA ESG ĐỒNG HÀNH CÙNG QUYẾT ĐỊNH 926/QĐ-TTg

Quyết định 926/QĐ-TTg cung cấp các gói hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn tài chính xanh và đào tạo cho các doanh nghiệp cam kết thực hiện mô hình kinh doanh bền vững. Nhà sản xuất biochar cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp một gói giải pháp ESG toàn diện, giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng các tiêu chí thụ hưởng của Chương trình 926/QĐ-TTg:

Trụ cột ESG Tác động Kỹ thuật & Môi trường Giá trị Thương mại cho Doanh nghiệp

E – Environmental

(Môi trường)

• Chuyển hóa 100% phế phụ phẩm thành năng lượng.

• Giảm 80 – 95% phát thải khí nhà kính so với nhiên liệu truyền thống.

• Cô lập 2,2 – 2,8 tấn CO_2e trên mỗi tấn Biochar bón đất.

• Giảm ngay chi phí mua nhiên liệu sản xuất.

• Đáp ứng các tiêu chuẩn chứng nhận xanh (ISO 14064, ISO 50001).

• Tránh nguy cơ bị đánh thuế carbon CBAM khi xuất khẩu.

S – Social

(Xã hội)

• Triệt tiêu tình trạng đốt rơm rạ/phụ phẩm xả thải ra môi trường.

• Cải thiện chất lượng không khí tại địa phương.

• Tạo sinh kế và thu nhập tăng thêm cho chuỗi cung ứng nông hộ.

• Tăng chỉ số uy tín thương hiệu và trách nhiệm xã hội.

• Xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, tạo sự gắn kết chặt chẽ với người nông dân và hợp tác xã vùng nguyên liệu.

G – Governance

(Quản trị)

• Tích hợp hệ thống số hóa MRV (Đo lường, Báo cáo, Thẩm định).

• Định vị GPS và quản lý mã định danh lô hàng Biochar chuẩn hóa quốc tế.

• Dữ liệu ESG minh bạch, sẵn sàng cho kiểm toán độc lập.

• Dễ dàng tiếp cận các nguồn Vốn tín dụng Xanh (Green Credits) và Quỹ đầu tư tác động theo Quyết định 926/QĐ-TTg.

 

  1. MÔ HÌNH HỢP TÁC VÀ NĂNG LỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT BIOCHAR

Để hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí đầu tư ban đầu, Các công ty sản xuất biochar triển khai các mô hình hợp tác thương mại linh hoạt:

4.1. Mô hình BOT / BOO Năng lượng Xanh (Build – Own – Operate)

Công ty sản xuất biochar trực tiếp đầu tư, lắp đặt và vận hành hệ thống lò nhiệt phân ngay tại nhà máy của khách hàng. Khách hàng chỉ cần cung cấp nguồn phế phụ phẩm và cam kết mua lại nguồn nhiệt/năng lượng sạch với mức giá ưu đãi hơn từ 15 – 25% so với chi phí năng lượng truyền thống.

4.2. Dịch vụ Tư vấn và Thương mại hóa Tín chỉ Carbon (CORC)

Công ty sản xuất biochar không chỉ cung cấp máy móc mà còn đảm nhận toàn bộ quy trình đo lường, đăng ký chứng nhận loại bỏ carbon (Biochar Carbon Removal – CORC) trên các sàn giao dịch quốc tế như Puro.earth. Lợi nhuận từ việc bán tín chỉ carbon sẽ được chia sẻ trực tiếp với doanh nghiệp đối tác, tạo ra dòng tiền thuần tăng thêm cho doanh nghiệp.

Cam kết giá trị từ công ty sản xuất biochar :

“Chúng tôi không chỉ bán thiết bị, chúng tôi cung cấp giải pháp toàn diện giúp doanh nghiệp biến chi phí xử lý chất thải thành nguồn thu nhập từ năng lượng sạch và tín chỉ carbon, đưa ESG từ một định hướng lý thuyết trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trên thương trường.”

 

  1. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP

Giải pháp thương mại của các công ty sản xuất biochar trong việc đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam hiện thực hóa Nghị quyết 70/NQ-TW về an ninh năng lượng quốc gia và tiếp cận nguồn lực hỗ trợ từ Quyết định 926/QĐ-TTg (Chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030). Thông qua hệ sinh thái công nghệ Nhiệt phân sinh khối (Pyrolysis) sản xuất Năng lượng sinh học tự dùng và Than sinh học (Biochar), các công ty sản xuất biochar cung cấp mô hình dịch vụ trọn gói giúp doanh nghiệp vừa bảo đảm tự chủ năng lượng sản xuất, vừa gia tăng xếp hạng ESG, thu đổi tín chỉ carbon và bứt phá năng lực cạnh tranh quốc tế.

Việc kết hợp giữa mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng theo Nghị quyết 70/NQ-TW và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh ESG theo Quyết định 926/QĐ-TTg không còn là lựa chọn mang tính hình thức, mà là bài toán sinh tồn của doanh nghiệp trong giai đoạn 2026 – 2030.

Công nghệ Than sinh học và Năng lượng sinh học của các công ty sản xuất biochar chính là chìa khóa vàng giúp các doanh nghiệp Việt Nam chủ động nguồn năng lượng, xanh hóa quy trình sản xuất, tối ưu hóa điểm số ESG và bứt phá vươn ra thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp chế biến nông sản, tập đoàn công nghiệp và hợp tác xã cần nhanh chóng nắm bắt các chính sách ưu đãi từ Chương trình 926/QĐ-TTg để hợp tác cùng công ty sản xuất biochar triển khai mô hình ngay trong năm nay.

Thực hiện: Thành Vinh, phó ban truyền thông VITAD-AGRI

THÔNG TIN LIÊN HỆ HỢP TÁC DỰ ÁN ESG & NĂNG LƯỢNG XANH:

Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI)

– Website: https://vitad-agri.vn

– Lĩnh vực: Tư vấn, chuyển giao, đào tạo khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nông nghiệp và đặc biệt là nông nghiệp hữu cơ và các lĩnh vực khác

Công ty Cổ phần Mekong Green Tech (MKGREEN)

– Website: https://mkgreen.vn/

– Lĩnh vực: Thiết bị Nhiệt phân Công nghiệp – Giải pháp Năng lượng Sinh học – Tín chỉ Carbon & Cải tạo đất Biochar.

Tiêu dùng xanh: Xu thế thay đổi mô hình sản xuất

 Công nghệ cốt lõi chính là lực đẩy giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua giai đoạn chuyển đổi đầy rủi ro, tối ưu hóa nguồn lực và vững bước trên hành trình sản xuất xanh.

Công ty may Maxport Hải Hậu, Nam Định, đơn vị có nhiều giải pháp cho sản xuất xanh, tăng trưởng bền vững. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Cuộc “Cách mạng Xanh” trên toàn cầu đã thúc đẩy việc tiêu thụ sản lượng lớn lương thực, thực phẩm, tuy nhiên cũng kéo theo đó là việc sử dụng ồ ạt phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật trong nhiều thập kỷ qua.

Mặt trái của sự tăng trưởng nóng là một hệ sinh thái bị tổn thương nghiêm trọng: Đất đai thoái hóa, đa dạng sinh học suy giảm; cùng những hệ lụy khôn lường đối với sức khoẻ con người.

Trước thực trạng báo động đó, thị trường đang chứng kiến cuộc chuyển đổi sâu sắc về hành vi tiêu dùng xanh gắn với sự thay đổi về mô hình sản xuất.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhu cầu về các sản phẩm an toàn, có nguồn gốc tự nhiên không còn là xu hướng nhất thời, mà đã trở thành tiêu chuẩn sống mới.

Những khảo sát thị trường gần đây, cho thấy, có tới 88% người tiêu dùng bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến thực phẩm hữu cơ, với tệp khách hàng chủ lực là những người có thu nhập cao tại các đô thị lớn. Họ sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn, nhưng yêu cầu minh bạch tuyệt đối về chuỗi cung ứng, từ khâu sản xuất, chế biến, bao gói, bảo quản cho đến phân phối…

Sự dịch chuyển của thị trường đã đặt cộng đồng doanh nghiệp sản xuất trước yêu cầu phải chuyển đổi mô hình sản xuất xanh, bền vững; hoặc sẽ bị đào thải khỏi chuỗi giá trị toàn cầu.

Lúc này, nông nghiệp hữu cơ không chỉ là việc loại bỏ hóa chất, mà là quản trị hệ sinh thái dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi. Đó là: Sức khỏe, sinh thái, công bằng và sự cẩn trọng.

Nông dân xã Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch dưa được trồng theo tiêu chuẩn nông nghiệp sạch. (Ảnh: Hải Âu/TTXVN)

Nông dân xã Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch dưa được trồng theo tiêu chuẩn nông nghiệp sạch. (Ảnh: Hải Âu/TTXVN)

Đánh giá về sự dịch chuyển tư duy này, Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Nhóm Nghiên cứu mạnh Công nghệ canh tác cây trồng bền vững) nhấn mạnh, chuyển đổi sang sản xuất bền vững là cuộc cách mạng về nhận thức, trước cả cuộc cách mạng về  công nghệ.

Triết lý chuyển đổi xanh đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống khép kín, tôn trọng sức khỏe của đất, bảo vệ hệ sinh thái và đảm bảo tính minh bạch, công bằng cho mọi tác nhân tham gia chuỗi giá trị. Đây là nền tảng sống còn để hàng hóa Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế.

Dù nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững, nhưng thực tiễn triển khai tại Việt Nam vẫn đối mặt với muôn vàn thách thức. Hiện cả nước có khoảng 240.000 ha đất canh tác hữu cơ, thu hút sự tham gia của khoảng 160 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với kim ngạch xuất khẩu đạt 335 triệu USD mỗi năm. 

 

Tuy nhiên, để đạt được những chứng nhận danh giá như USDA (Mỹ), EU Organic của (châu Âu), JAS (Nhật Bản) hay TCVN 11041 của Việt Nam, doanh nghiệp phải vượt qua quá trình chuyển đổi vô cùng khắc nghiệt.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Dinh, thời gian chuyển đổi mô hình có thể kéo dài từ 12-18 tháng đối với tiêu chuẩn TCVN, hoặc lên tới 3 năm theo tiêu chuẩn USDA trước khi có vụ thu hoạch đầu tiên được công nhận.

Trong giai đoạn này, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về thiết lập vùng đệm cách ly, đánh giá rủi ro nguồn nước, đất đai và duy trì hệ thống nhật ký điện tử minh bạch.

Nhưng chính những rào cản về mặt tiêu chuẩn này đang tạo ra áp lực rất lớn cho các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nhiều địa phương trên cả nước

 

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Chung, Giám đốc Hợp tác xã Thương mại Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính cho biết, khi bước vào sân chơi của các chứng nhận tiêu chuẩn khắt khe, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp là làm sao duy trì được độ phì nhiêu của đất và kiểm soát rủi ro ô nhiễm chéo mà không dùng đến hóa chất.

Nếu chỉ làm theo kinh nghiệm truyền thống, chi phí nhân công sẽ đội lên rất cao, trong khi năng suất giai đoạn đầu lại sụt giảm, khiến nhiều hội viên dễ nản lòng và muốn quay lại phương thức cũ.

Bày tỏ sự trăn trở trong việc vận hành các mô hình sinh thái, ông Hy Thành Trung, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp  Công nghệ cao địa sinh thái VFARM cho hay, doanh nghiệp nhận thức rõ phát triển bền vững là con đường duy nhất để đưa sản phẩm tiến vào các kênh phân phối hiện đại.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của các chứng chỉ uy tín, hợp tác xã rất cần những giải pháp công nghệ mang tính tuần hoàn, giúp tối ưu hoá chi phí đầu vào và giải quyết triệt để bài toán xử lý phế phụ phẩm một cách an toàn.

Trước những điểm nghẽn thực tiễn đó, việc ứng dụng Biochar (than sinh học) nổi lên như một giải pháp chiến lược, đáp ứng hoàn hảo tiêu chí của nền  kinh tế tuần hoàn. Biochar không chỉ giúp giữ ẩm, cải tạo cấu trúc đất và khóa chặt hàm lượng carbon-giảm thiểu hiệu ứng nhà kính- mà còn là lời giải cho bài toán xử lý phế phẩm thân thiện với môi trường.

Đứng từ góc độ vĩ mô của phong trào chuyển đổi, ông Lê Quý Kha, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) cho biết, trong Chiến lược Net Zero và giảm phát thải quốc gia, Biochar đóng một vai trò trung tâm.

Việc ứng dụng  công nghệ này không chỉ dừng lại ở việc tạo ra năng suất an toàn, mà là minh chứng cho trách nhiệm xã hội (ESG) của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp ứng dụng thành công chu trình tuần hoàn này, họ đang tự tạo ra ‘tài sản niềm tin’ vô giá trong mắt các nhà đầu tư và người tiêu dùng quốc tế. 

Để hiện thực hóa được chu trình đó, sự tham gia của các doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ là không thể thiếu. Ông Lê Quý Vinh, đại diện Công ty Tomexco khẳng định, Tomexco cung cấp những giải pháp công nghệ cơ khí và thiết bị xử lý môi trường tiên tiến nhất, giúp các hợp tác xã và doanh nghiệp có thể tự chủ trong việc sản xuất Biochar đạt chuẩn từ chính nguồn phế phẩm của mình. Doanh nghiệp tin rằng, công nghệ cốt lõi chính là lực đẩy giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua giai đoạn chuyển đổi đầy rủi ro, tối ưu hóa nguồn lực và vững bước trên hành trình sản xuất xanh.

Có thể thấy, khi công nghệ, truyền thông và khát vọng phát triển bền vững của các doanh nghiệp hòa làm một, tạo nên hệ sinh thái sản xuất xanh không chỉ minh bạch, mà còn đầy sức cạnh tranh trên trường quốc tế./.

Thực hện: Ngọc Quỳnh (TTX Việt Nam)

TẬP HUẤN “NHẬN THỨC VỀ NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ VÀ ỨNG DỤNG BIOCHAR TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ”

8 giờ sáng 25/7/2026, tại Hội trường Công ty Tomexco, KM 26, Khê Than, Xã Phú Nghĩa, thành phố Hà Nội, Công ty Tomexco cùng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) phối hợp tổ chức khóa tập huấn: “Nhận thức về Nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng Biochar trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ”.

 

Các đại biểu và học viên tham dự:

– Ông Lê Quý Vinh, Chủ tịch Công ty Cổ phần Mekong Green Tech, Giám đốc Công ty Tomexco, đơn vị tổ chức khóa tập huấn.

– Ông Lê Quý Kha – Phó chủ tịch Hiệp hội chuyển đổi xanh Việt Nam VGA

– Ông Nguyễn Quang Chung, Giám đốc HTX Chung Thịnh Chính.

– Ông Hy Thành Trung – Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM.

– Ông Nguyễn Duy Hậu, Giám đốc Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại BDC.

– Đặng Đình Viên, Giám đốc Công ty Cổ phần Tiên Viên.

– Ông Ngô Tiến Hiếu, Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ sạch Organtech.

– Ông Lê Quý Kha – Phó chủ tịch Hiệp hội chuyển đổi xanh Việt Nam VGA

– Nhà báo Ngọc Quỳnh TTX Việt Nam – Công ty TNHH Giải pháp Truyền thông Hừng Đông.

– Ông Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), Điều phối khóa học.

– TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, chuyên ngành Khoa học nông nghiệp – Giảng viên buổi sáng.

– NCS Nguyễn Văn Thao, chuyên ngành Khoa học cây trồng và phân bón – Giảng viên buổi chiều.

– TS Nguyễn Xuân Hòa, chuyên gia Khoa học và công nghệ sinh học môi trường.

Cùng gần ba mươi học viên là thành viên Công ty Tomexco, HTX Chung Thịnh Chính, Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại BDC, Công ty Cổ phần Tiên Viên, Công ty cổ phần công nghệ sạch Organtech cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, tiểu thương tham gia tập huấn trực tiếp.

Cùng gần ba mươi học viên là thành viên Công ty Tomexco, HTX Chung Thịnh Chính, Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại BDC, Công ty Cổ phần Tiên Viên, Công ty cổ phần công nghệ sạch Organtech cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, tiểu thương tham gia tập huấn trực tiếp.

Khóa tập huấn là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như phương pháp sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn và ứng dụng Biochar trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Toàn cảnh khóa tập huấn “Nhận thức về Nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng Biochar trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ”

Phát biểu khai mạc khóa học, ông Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) giới thiệu các đại biểu về tham dự cuộc tập huấn. Ông cũng điểm xuyết những nét cơ bản về khóa học: Nông nghiệp hữu cơ và vai trò của nông nghiệp hữu cơ, xu thế và điểm mạnh trong ứng dụng Biochar trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Ông hy vọng khóa tập huấn “Nhận thức về Nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng Biochar trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ” sẽ giúp cho các học viên có được những kiến thức cần thiết cho công việc nông nghiệp hữu cơ được chuẩn mực và hiệu quả, bên cạnh đó, các học viên tham gia đầy đủ khóa học sẽ được cấp chứng chỉ tham gia – chứng chỉ này bảo đảm cho bạn được công nhận là người có hiểu biết về nông nghiệp hữu cơ, thuận lợi cho việc xin cấp vốn làm “nông nghiệp xanh” và các chứng nhận liên quan như bảo hộ quyền tác giả, nhãn hiệu, logo… Ông cũng chúc các học viên chăm chỉ học tập và đạt được kết quả tốt nhất.

Ông Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) phát biểu khai mạc và điều phối khóa học

Kế tiếp, TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh – chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa tập huấn – đã trình bày Tổng quan về nông nghiệp hữu cơ. Mở đầu bải giảng, bà đặt ra câu hỏi: “Tại sao phải làm nông nghiệp hữu cơ”, từ đó dẫn ra cuộc “Cách Mạng Xanh” bắt đầu từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới, bao gồm các kỹ thuật trọn gói được sử dụng nhằm tăng năng suất trên mỗi đơn vị diện tích canh tác. Tuy nhiên, “Cách mạng xanh” – Liệu nó có xanh, khi những hậu quả đã xuất hiện sau nhiều năm sử dụng phân bón hóa học: Thoái hóa đất, Giảm đa dạng sinh học, Lạm dụng hóa chất, Ngộ độc thực phẩm và đặc biệt là ô nhiễm môi trường. Vậy, việc làm nông nghiệp hữu cơ là hết sức bức thiết, công tác “làm xanh trở lại” đất nước không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của chúng ta mà ứng dụng Biochar trong phân bón vi sinh và cải tạo đất là một phương pháp tiên tiến, hiện đại. TS Dinh cũng trình bày các nội dung của bài giảng:

  1. Khái niệm
  2. Nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ
  3. Ý nghĩa và lợi ích của nông nghiệp hữu cơ
  4. Cơ hội và thách thức trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong nước và quốc tế
  5. Một số tiêu chuẩn hữu cơ trên thế giới và Việt Nam (JAS, USDA, EU, TCVN…)
  6. Quy trình và yêu cầu chứng nhận
  7. Quy hoạch, thiết kế và các bước chuẩn bị để doanh nghiệp chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên buổi sáng

Ngoài ra, TS Dinh cũng đưa ra “Sơ đồ quy hoạch chức năng: Mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng”, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong NNHC theo các tiêu chí: Mục tiêu, Đầu vào, Sâu bệnh, Năng lượng và chất thải; phân tích các bước sản xuất hữu cơ theo trình tự: Lựa chọn khu vực sản xuất; lựa chọn, quản lý và sử dụng đầu vào; Kiểm soát sản xuất hữu cơ; Sơ chế – Chế biến – Bao gói – Bảo quản; Ghi nhãn.

Sơ đồ quy hoạch chức năng mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng

Sau phần giải lao năm phút là phần thảo luận sôi nổi. Các học viên đã đề ra cho TS Dinh những câu hỏi liên quan đến Nông nghiệp hữu cơ như cách sử dụng phân bón phù hợp.

Học viên Nguyễn Quang Chung đến từ HTX Chung Thịnh Chính đề nghị làm rõ lý do không được sử dụng than bùn trong nông nghiệp hữu cơ, ông cũng hỏi thêm cách phân biệt giữa việc sử dụng phân lân nóng chảy và phân “super” lân trong nông nghiệp hữu cơ.

Học viên Đặng Đình Viên đến từ Công ty Cổ phần Tiên Viên thắc mắc về việc cấp giấy chứng nhận cho thủy sản như cây rong, cây tảo, ông cũng xin tư vấn thêm về việc sử dụng hệ thống đuổi côn trùng mà không ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, không vi phạm các tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ.

Học viên đặt câu hỏi cho Giảng viên – TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh và NCS Nguyễn Văn Thao đã giải đáp cụ thể các câu hỏi này. Các học viên đều hài lòng với những câu trả lời này.

Cuối buổi tập huấn đầu tiên là lễ Ký Biên bản ghi nhớ (MOU): Với sự chứng kiến của toàn bộ học viên:

– Nhà báo Ngọc Quỳnh (TTX Việt Nam – Công ty TNHH Giải pháp Truyên thông Hừng Đông) với ông Lê Quý Vinh (Công ty Tomexco).

– Nhà báo Ngọc Quỳnh (TTX Việt Nam – Công ty TNHH Giải pháp Truyên thông Hừng Đông) với ông Hy Thành Trung HTX NN CNC địa sinh thái VFARM

– Nhà báo Ngọc Quỳnh (TTX Việt Nam – Công ty TNHH Giải pháp Truyên thông Hừng Đông) với ông Nguyễn Quang Chung HTX TM& DV NN Chung Thịnh Chính.

Lễ Ký Biên bản ghi nhớ (MOU)

Buổi tập huấn đầu tiên kết thúc vào lúc 12h00, các học viên tham dự buổi ăn trưa và trò chuyện giao lưu tại phòng ăn bên cạnh lớp tập huấn.

Buổi chiều, 13h15, NCS Nguyễn Văn Thao hướng dẫn các học viên tập huấn Tổng quan về Tổng quan về phân bón hữu cơ có sử dụng Biochar với các nội dung:

  1. Khái niệm về phân bón hữu cơ có sử dụng biochar
  2. Phương pháp ứng dụng biochar trong sản xuất phân hữu cơ
  3. Hiệu quả của phân hữu cơ có biochar trên một số loại cây trồng
  4. Ý nghĩa và định hướng tương lai

NCS Nguyễn Văn Thao, chuyên gia Khoa học cây trồng và phân bón – Giảng viên buổi chiều.

NCS Nguyễn Văn Thao kết luận: “Biochar không chỉ là chất cải tạo đất, mà là chất xúc tác cho sự thay đổi hệ thống.” Ông cũng có những lời khuyên cho người nông dân như: khi ủ phân nên trộn Biochar ngay từ đầu quá trình ủ phân chuồng để giữ đạm tốt nhất; giữ ẩm bằng cách sử dụng Biochar trong mùa khô Tây Nguyên để cà phê, tiêu không héo rũ. Biochar nằm lại đất hàng trăm năm, là “của để dành” cho con cháu, giúp vùng canh tác hữu cơ được bền vững.

Tiếp nối bài giảng của, ông Phạm Đình Nam giới thiệu về phương pháp tận dụng vỏ cây sầu riêng để sản xuất Biochar và thức ăn chăn nuôi, ông Lê Quý Kha giới thiệu phần mềm truy xuất nguồn gốc sản phẩm và được các học viên nhiệt tình hưởng ứng.

Sau phần giải lao năm phút là phần thảo luận sôi nổi tương tự buổi sáng. Các học viên đã đề ra cho NCS Nguyễn Văn Thao những câu hỏi liên quan các loại phân bón vi sinh và phối trộn Biochar, phương pháp khử độc cho phân ngan hay phương pháp nuôi cấy vi sinh bản địa.

Học viên đặt câu hỏi cho Giảng viên – NCS Nguyễn Văn Thao

NCS Nguyễn Văn Thao và TS Nguyễn Xuân Hòa đã giải đáp cụ thể các thắc mắc này và nhận được sự tán thưởng của các học viên

Cuối buổi học TS Lê Quý Kha cùng với Giảng viên – NCS Nguyễn Văn Thao đã lần lượt trao chứng chỉ tham gia khóa tập huấn cho các học viên và chụp ảnh lưu niệm toàn khóa.

TS Lê Quý Kha trao chứng chỉ tham gia khóa tập huấn cho một số học viên tiêu biểu

Buổi tập huấn thứ hai kết thúc vào lúc 17h00. Nhiều học viên còn nán lại hỏi thêm các giảng viên nhiều câu hỏi liên quan đến bài học, hứa hẹn một tương lai tươi sáng cho ngành nông nghiệp hữu cơ Việt Nam với các ứng dụng mới mẻ, hiện đại, chẳng hạn công nghệ Biochar.

Một số hình ảnh khác của ngày tập huấn.

      

                 Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Truyền thông, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

Lúa Japonica Đồng Phú: Hành trình từ “Cánh đồng hữu cơ” đến biểu tượng Nông nghiệp Xanh Thủ đô

Ngày 13/06/2026, tại xã Hòa Phú (TP. Hà Nội), “Ngày hội lúa Japonica hữu cơ” đã diễn ra trong không khí hân hoan, khẳng định vị thế của mô hình nông nghiệp hữu cơ kiểu mẫu. Sự kiện không chỉ tôn vinh thành quả lao động của bà con nông dân mà còn là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn chiến lược của Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh trong hành trình “nâng tầm” giá trị nông sản Việt theo chuẩn quốc tế.

Tổng quan “Ngày hội lúa Japonica hữu cơ” tại Hội trường xã Hòa Phú

 Sự kết nối giữa tinh hoa đất trời và tầm nhìn doanh nghiệp

Trong không gian đậm chất quê hương với những bản tình ca về cây lúa Việt Nam, Ngày hội lúa Japonica đã quy tụ đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học và các chuyên gia đầu ngành. Sự hiện diện của ông Nguyễn Văn Vương – Trưởng Phòng Quản lý giống cây trồng – Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Vũ Xuân Hùng – Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch UBND xã Hòa Phú, ông Đỗ Xuân Tình – Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Phú, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh, bà Trịnh Thị Nguyệt – Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú, PGS.TS Mai Quang Vinh – Ủy viên Ủy banTW mặt trận tổ quốc Việt Nam – Ủy viên Hội đồng Khoa học Công ty Bảo Minh, TS Lê Quý Kha – Phó Chủ tịch Hiệp hội chuyển đổi xanh Việt Nam VGA, TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, Biên tập viên Ngọc Bamboo, Mr Việt Anh – Chủ kênh Tiktok “Anh Đoại đến đây” và một số quý vị đại biểu, các nhà khoa học, chủ doanh nghiệp cùng toàn thể bà con nông dân Đồng Phú đã minh chứng cho tầm vóc quan trọng của sự kiện đối với bức tranh nông nghiệp hiện đại.

Các đại biểu tham dự Ngày Hội

Mở đầu ngày hội, thước phim phóng sự về hành trình của giống lúa Japonica tại Đồng Phú đã chạm đến cảm xúc của nhiều người. Từ con số khiêm tốn 2 ha thử nghiệm năm 2012 rồi mở rộng lên 5 ha đại trà, qua những ngày gian khó, đến nay, vùng nguyên liệu đã mở rộng lên 65 ha. Đây không chỉ là con số về diện tích, mà là cột mốc khẳng định thành công của tư duy canh tác hữu cơ bền vững của Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú và Công ty Bảo Minh đóng vai trò là “cánh tay nối dài” đưa sản phẩm vươn xa.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu trong video phóng sự về lúa Japonica tại Đồng Phú

 

Bảo Minh và sứ mệnh “Nâng tầm” nông sản hữu cơ

Tại trung tâm của sự kiện, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh – đã có những chia sẻ đầy tâm huyết về hành trình đồng hành cùng người nông dân. Đối với Bảo Minh, mỗi hạt gạo Japonica không chỉ là nông phẩm, mà là kết tinh của sự tử tế, minh bạch và khát vọng khẳng định thương hiệu Việt trên bản đồ tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới.

Sau đó, tại cánh đồng lúa Đồng Phú, bà Hạnh Hiếu nhớ lại những ngày đầu tiếp cận nông dân Đồng Phú, khi khái niệm “nông nghiệp hữu cơ” còn xa lạ. Bằng sự kiên trì, Bảo Minh đã thuyết phục bà con ký kết hợp đồng bao tiêu, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật để đạt chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn USDA (Hoa Kỳ) – một trong những tiêu chuẩn chất lượng cao cấp bậc nhất thế giới.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu trả lời phỏng vấn tại cánh đồng lúa Đồng Phú

Điều khác biệt mà Bảo Minh mang lại không chỉ là bao tiêu đầu ra, mà là sự thay đổi tư duy sản xuất: thực hiện nông nghiệp sạch xuyên suốt từ đồng ruộng đến bàn ăn. “Chúng tôi tin rằng, với sự phối hợp chặt chẽ, Bảo Minh sẽ đưa lúa Japonica vươn lên tầm cao mới, nâng cao thu nhập cho bà con và vị thế của xã Hòa Phú”, bà Hạnh Hiếu khẳng định. Thực tế đã chứng minh, nhờ sự đồng hành này, mỗi hộ nông dân tại Đồng Phú hiện có thu nhập ổn định từ 600 – 800 triệu đồng/mùa, con số mơ ước của nhiều vùng nông nghiệp trên cả nước.

 

Đồng Phú: Hình mẫu nông nghiệp hữu cơ kiểu mẫu của Hà Nội

Phát biểu tại ngày hội, bà Trịnh Thị Nguyệt đã nói lời cảm ơn GS Phạm Tiến Dũng – nguyên chuyên gia đầu ngành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) đã đưa những giống lúa hữu cơ về trồng thử nghiệp ở đây, ban đầu là lúa Bắc thơm số 7, sau đó là Japonica J02 năm 2012, mở đường cho sự thành lập Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú vào 5 năm sau đó (2017) và có được thành quả 65 ha lúa hữu cơ chất lượng cao nơi Đồng Phú này, cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo trung ương, địa phương, các nhà khoa học, cảm ơn sự cố gắng tận tâm của bà con nông dân nơi đây đã làm nên thương hiệu lúa gạo Japonica nổi tiếng có chất lượng OPCOP 4 sao.

Bà Trịnh Thị Nguyệt Phát biểu tại ngày hội

Cũng tại đây, ông Đỗ Xuân Tình – Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Phú – đánh giá cao vai trò kết nối của Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú dưới sự dẫn dắt của bà Trịnh Thị Nguyệt. Việc kế thừa những nghiên cứu từ các nhà khoa học đi trước, đến nay gạo Japonica hữu cơ có giá thành cao hơn so với gạo thông thường, nhưng sản phẩm vẫn luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Điều này phản ánh xu hướng tiêu dùng thông minh của thị trường hiện đại, nơi người tiêu dùng sẵn sàng chi trả xứng đáng cho những sản phẩm thực sự sạch, minh bạch nguồn gốc.

Ông Đỗ Xuân Tình đánh giá cao lúa hữu cơ Japoanic

Ông Nguyễn Văn Vương – đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – nhận định: “Bà con nông dân Hòa Phú đã làm nên một sản phẩm tuyệt vời, trở thành hình mẫu nông nghiệp hữu cơ của Thủ đô Hà Nội”. Ông bày tỏ kỳ vọng mô hình này sẽ lan tỏa mạnh mẽ ra khắp vùng đồng bằng sông Hồng, không chỉ tăng diện tích mà còn nâng cao chất lượng hạt gạo.

Ông Nguyễn Văn Vương kỳ vọng mô hình lúa hữu cơ sẽ lan tỏa mạnh mẽ

 

Hướng tới tương lai: Chuyển đổi xanh bền vững

Trong bài phát biểu sau cùng, TS Lê Quý Kha (Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam VGA) đã biểu dương tinh thần “chuyển đổi xanh” tại Hòa Phú và đề cao địa thế cách ly lý tưởng cho nông nghiệp hữu cơ nơi đây. Ông đặt ra mục tiêu đầy tham vọng cho giai đoạn tới: mở rộng diện tích từ 65 ha lên 100 – 200 ha, đồng thời nâng năng suất từ 250-300 kg/sào lên 350 kg/sào thông qua việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

TS Lê Quý Kha biểu dương tinh thần “chuyển đổi xanh” tại Hòa Phú

Ngày hội khép lại với những trải nghiệm thực tế ngay tại cánh đồng Đồng Phú. Các đại biểu đã trực tiếp giao lưu với bà con nông dân đang gặt lúa, cùng thưởng thức những món ăn được chế biến từ gạo hữu cơ như cơm gạo, bánh dày… trong không gian âm nhạc đồng quê ấm cúng. Sau đó là buổi livestream trực tiếp, mang “hơi thở” của ngày hội lúa đến với hàng ngàn người tiêu dùng trên khắp cả nước.

 

Lời kết

“Ngày hội lúa Japonica” không chỉ là dịp để nhìn lại thành quả sau nhiều năm miệt mài, mà còn là lời khẳng định về sức sống bền bỉ của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Với nền tảng là sự tận tâm của người nông dân, sự hỗ trợ khoa học của các chuyên gia và tầm nhìn tiên phong từ các doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh, HTX nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú, gạo Japonica nơi đây đang viết tiếp câu chuyện về thương hiệu nông sản Việt chất lượng cao.

Đó là hành trình từ bùn đất vươn lên thành tiêu chuẩn quốc tế, là sự kết tinh của tình yêu quê hương và sự sáng tạo không ngừng nghỉ. Bảo Minh cam kết sẽ tiếp tục là “người đồng hành tin cậy”, đảm bảo sự ổn định trong chuỗi giá trị, mang hạt gạo sạch đến tận tay người tiêu dùng, để thương hiệu nông sản Việt ngày càng khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.

 

Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo MinhTâm huyết cho chất lượng; HTX nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú – Bền vững cho tương lai.

Một số hình ảnh ấn tượng trong Ngày Hội: 

             

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban truyền thông

Lúa Rươi Chí Minh: Bản Giao Hưởng Của Đất Trời và Khát Vọng Vươn Ra Thế Giới

Ngày 6 tháng 6 năm 2026, tại xã Chí Minh, một ngày nắng vàng rực rỡ, không khí tại vùng đất ven sông như náo nhiệt hơn bao giờ hết. Sự kiện “Ngày hội Lúa Rươi hữu cơ và xúc tiến thương mại các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP” không đơn thuần chỉ là một sự kiện xúc tiến thương mại, mà đó là ngày hội của lòng biết ơn, sự kế thừa và niềm tự hào của một cộng đồng nông dân đang tiên phong trong xu hướng nông nghiệp xanh bền vững.

 “Lộc trời” từ tư duy “thuận thiên”

Câu chuyện về lúa rươi Chí Minh không bắt đầu từ những máy móc hiện đại, mà bắt đầu từ việc lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên. Rươi – loài sinh vật vốn được mệnh danh là “rồng đất”, cực kỳ nhạy cảm với hóa chất và ô nhiễm môi trường. Trước đây, rươi chỉ được coi là “lộc trời” ban tặng theo con nước. Nhưng người dân Chí Minh đã không dừng lại ở đó. Họ đã biến những cánh đồng lúa truyền thống thành một hệ sinh thái tuần hoàn, nơi con rươi cùng cây lúa cùng cộng sinh, cùng lớn lên.

Sự chuyển đổi này mang đậm dấu ấn lịch sử. Video đầu chương trình đã gợi lại những ngày đầu gian khó. Bà con Chí Minh hồi nhớ lại tâm huyết của ông Trần Văn Quân – Phó Chủ tịch UBND Thành phố, người khi còn làm Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương (cũ) đã có sáng kiến đột phá: xây dựng Cống Sồi. Chính việc điều tiết nguồn nước sông từ ngoài đê vào đồng ruộng đã tạo ra sự thay đổi kỳ diệu, biến vùng đất khó canh tác thành vùng sản xuất hữu cơ đến nay quy mô lên tới 1700 ha trù phú, trong đó riêng xã Chí Minh có 478 ha sản xuất lúa kết hợp khai thác rươi, cáy, hàng năm cung cấp khoảng 2.400 tấn lúa hữu cơ và từ 500 – 600 tấn rươi, cáy thương phẩm. Doanh thu bình quân đạt từ 500 – 600 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận đạt từ 350 – 450 triệu đồng/ha/năm, cao hơn nhiều lần so với sản xuất lúa truyền thống. Hệ sinh thái này tạo nên một chỉnh thể nông nghiệp “thuận thiên” bền vững.

Toàn cảnh Hội trường “Ngày Hội Lúa Rươi”

Ngày hội của sự kết nối và những tâm hồn đồng điệu

Sự kiện ngày 6/6/2026 là điểm hội tụ của những nhà quản lý, nhà khoa học và người nông dân. Ông Nguyễn Hồng Sơn – Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, ông Nguyễn Quang Phúc – Ủy viên thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hải Phòng, ông Trần Văn Quân – Ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ Thành phố, Phó chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng, bà Lương Thị Kiểm – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hải Phòng, ông Dương Hà Hải – Bí thư đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Chí Minh, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh cùng các lãnh đạo địa phương đã có mặt để chứng kiến thành quả sau bao năm miệt mài.

Các đại biểu tham dự “Ngày Hội Lúa Rươi”

Bà Lương Thị Kiểm đã thay mặt ngành nông nghiệp bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bà con nông dân. Bà nói: “Thương hiệu lúa rươi Chí Minh đạt chuẩn OCOP 5 sao không phải là món quà từ trên trời rơi xuống, đó là kết quả của mồ hôi, công sức và đặc biệt là sự tử tế của người nông dân Chí Minh khi đã dám nói không với hóa chất, chấp nhận quy trình canh tác khắt khe để giữ lại sự tinh khiết cho hạt gạo.”

Bà Lương Thị Kiểm phát biểu khai mạc “Ngày Hội Lúa Rươi”

Khi doanh nghiệp là người bạn đồng hành

Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của ngày hội là sự xuất hiện của Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh. Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng Giám đốc Công ty, trong bài phát biểu của mình, đã không gọi bà con là “đối tác”, bà gọi họ là những người bạn, những “nghệ sĩ” trên đồng ruộng. Bản thân gia đình bà cũng đã bốn đời canh tác, khai thác lúa và rươi. Bảo Minh liên kết trực tiếp với nông dân tại các vùng bãi bồi ven sông nước lợ như và các bãi rươi tại Hải Phòng với “Mô hình liên kết 7 nhà”: Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà tổ chức sản xuất – Nhà nông – Nhà băng – Nhà bán lẻ – Nhà truyền thông để quản lý quy trình từ đồng ruộng đến bàn ăn; Cam kết 3 KHÔNG trong thu mua: Doanh nghiệp ký kết trực tiếp với các hợp tác xã và hộ nông dân ngay từ đầu vụ, không mua qua trung gian, thu mua giá ổn định và kiểm soát tuyệt đối chất lượng thóc đầu vào. Với dòng sản phẩm chủ lực: Gạo ST25 ruộng rươi (loại thượng hạng hoặc dòng hữu cơ Queen Rice); Quy trình canh tác hữu cơ (Con rươi rất nhạy cảm với hóa chất. Do đó, vùng đất trồng lúa tuyệt đối không sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học hay chất kích thích). Đất được rươi “cày bừa”, tạo độ tơi xốp tự nhiên. Do hấp thụ tinh túy từ môi trường cộng sinh đặc biệt, hạt gạo chứa hàm lượng dinh dưỡng cao vượt trội (Vitamin A, B1, B6, B12, Omega 3-6-9…). Bảo Minh cũng áp dụng triết lý “Gạo tươi” bằng phương thức “Bán đến đâu, xay xát đến đó”. Bảo Minh định kỳ đồng hành tổ chức “Lễ hội Ruộng Rươi / Ngày hội lúa rươi hữu cơ” tại Hải Phòng. Đây chính là ngày hội văn hóa sinh thái nhằm tôn vinh nông nghiệp tử tế, tổ chức các hội thi gặt lúa, bắt nơm, và nấu ăn để quảng bá “hạt ngọc trời” được tổ chức hôm nay. Bảo Minh có kênh phân phối rộng lớn, hiện diện tại hơn 8.000 điểm bán trên toàn quốc và các kênh mua sắm trực tuyến.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu cảm ơn bà con nông dân Chí Minh và lãnh đạo địa phương

Bảo Minh không chỉ đóng vai trò là nhà tài trợ mà còn là “cánh tay nối dài” đưa nông sản Chí Minh ra thị trường lớn. Lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa lãnh đạo xã Chí Minh và Bảo Minh chính là minh chứng cho một tương lai bền vững. “Chúng tôi đến đây bằng sự trân trọng giá trị mà bà con đã tạo ra. Bảo Minh cam kết sẽ đồng hành cùng người nông dân, giúp gạo rươi không chỉ là đặc sản địa phương mà còn là niềm tự hào trên các kệ hàng quốc tế”, bà Hạnh Hiếu khẳng định.

Lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa lãnh đạo xã Chí Minh và Bảo Minh

Hơi thở đồng quê – Từ hội thi đến bàn tiệc

Để mang lại không khí thân thiện và gần gũi, ngày hội đã tổ chức các hội thi đậm chất dân gian. Những hình ảnh người nông dân với nụ cười rạng rỡ tham gia “Hội thi nấu ăn truyền thống”, “Hội thi gặt lúa” hay “Hội thi đùa nơm” đã làm cho không gian ngày hội trở nên sống động. Những món ăn từ rươi như chả rươi, rươi kho niêu đất hay cơm gạo rươi thơm lừng – tất cả đều được chế biến từ những nguyên liệu sạch ngay tại đồng quê, đã thực sự chinh phục các đại biểu.

Hội thi nấu ăn Truyền thống

Sau bữa cơm thân mật, đoàn đại biểu đã cùng nhau đi thực địa. Đi giữa những cánh đồng lúa xanh mướt, tận mắt thấy những con rươi khỏe mạnh dưới lớp bùn, mới hiểu được vì sao sản phẩm này lại quý đến vậy.

Chinh phục thị trường khó tính nhất thế giới

Anh Nguyễn Văn Tuân – Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Thế hệ mới là một điển hình tiêu biểu cho tư duy làm nông nghiệp thời đại mới. Anh cho biết, con đường đưa gạo Chí Minh ra thế giới không hề trải đầy hoa hồng. Từ những ngày đầu mày mò, đến nay, anh đã liên kết chặt chẽ với Bảo Minh để xuất khẩu hàng nghìn tấn gạo hữu cơ sang thị trường EU – thị trường nổi tiếng với những tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới.

“Khi gạo Chí Minh được dán nhãn hữu cơ tại các siêu thị lớn ở Châu Âu, tôi biết mình đã thành công. Không phải thành công về lợi nhuận, mà là thành công khi khẳng định được thương hiệu của người nông dân Việt Nam”, anh Tuân tâm sự. Câu chuyện của anh cũng chính là lời khẳng định về tương lai: nông sản Việt hoàn toàn đủ sức chinh phục những vị khách khó tính nhất nếu chúng ta đi đúng con đường nông nghiệp bền vững.

Hướng tới tương lai bền vững

Ngày hội lúa rươi tại xã Chí Minh khép lại, nhưng dư âm của nó sẽ còn lan tỏa. Với sự chỉ đạo sát sao của chính quyền, sự hỗ trợ từ các chuyên gia, sự đồng hành của doanh nghiệp như Bảo Minh và lòng quyết tâm của người nông dân như anh Tuân, anh Luận (Công ty Cổ phần Nông nghiệp Thế hệ mới), anh Trung (Công ty Cổ phần Đầu tư Hải Âu Việt – đơn vị sở hữu thương hiệu Gạo Kiến Quốc và Gạo Tết Vua)… không chỉ là địa danh nông nghiệp mà đang trở thành một biểu tượng cho sự chuyển mình của nông thôn mới Việt Nam.

Gạo rươi Chí Minh không chỉ là hạt gạo, đó là bản giao hưởng của đất trời, phù sa sông và khát vọng vươn tầm thế giới. Chặng đường phía trước còn nhiều thử thách, nhưng với nền móng vững chắc ngày hôm nay, chúng ta có quyền tin vào một tương lai tươi sáng cho vùng đất “đặc sản 5 sao” này.

Một số hình ảnh ấn tượng tại “Ngày Hội Lúa Rươi”

               

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban truyền thông VITAD-AGRI

Copyrights © 2019 VITAD-AGRI All Rights Reserved.

X