Category Archives: Chính sách nông nghiệp

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Từ lễ phát động tại Thái Nguyên năm 2017, ngày 19/9 trở thành dịp để cộng đồng hữu cơ Việt Nam tôn vinh những người tiên phong, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối phát triển. Nhìn lại chặng đường đã qua, những thành tựu về chính sách, tiêu chuẩn, sản xuất và hội nhập quốc tế đang tạo nền tảng để nông nghiệp hữu cơ tiếp tục phát triển vì sức khỏe con người và môi trường.
Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam.
Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam.

Khởi nguồn từ một lời kêu gọi vì cộng đồng

Tháng 9/2016, tại Hội nghị thượng đỉnh các chính quyền địa phương châu Á về phát triển nông nghiệp hữu cơ lần thứ hai ở Goesan, Hàn Quốc, đại biểu các nước thống nhất lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ châu Á. Hưởng ứng sáng kiến này, ngày 19/9/2017, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á lần thứ nhất.

Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tỉnh Thái Nguyên, đại diện IFOAM châu Á cùng hàng trăm đại biểu. Với sự đồng thuận của các đại biểu, ngày 19/9 được lựa chọn làm Ngày Hữu cơ Việt Nam, gắn hoạt động của cộng đồng trong nước với phong trào hữu cơ khu vực.

TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường.
TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường. Trong ảnh: TSKH. Hà Phúc Mịch phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024.

Việc lựa chọn Thái Nguyên làm nơi phát động mang ý nghĩa đặc biệt. Phát biểu tại lễ phát động (năm 2017), TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA đã nhắc lại mô hình chè hữu cơ được xây dựng từ năm 1998 tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời điểm đó. Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nhà khoa học và cơ quan chuyên môn, đây là một trong những mô hình sản xuất hữu cơ sớm ở Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho quá trình phát triển sau này.

Từ những người trồng chè tiên phong đến các nhóm nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp lựa chọn sản xuất hữu cơ, điểm gặp nhau là mong muốn tạo ra sản phẩm đáng tin cậy, bảo vệ đất đai và gìn giữ môi trường sống. Ngày 19/9 vì thế mang ý nghĩa ghi nhận những nỗ lực bền bỉ ấy, đồng thời tạo cơ hội để người sản xuất gặp gỡ nhà khoa học, doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Ngay tại lễ phát động năm 2017, Chủ tịch VOAA đã bày tỏ niềm tin ngày hội hữu cơ Việt Nam sẽ được tiếp nối hằng năm, “không bao giờ ngừng và không có lần cuối”. Đó là kỳ vọng về một phong trào được duy trì bằng hành động thường xuyên, từ đồng ruộng đến thị trường.

Đến lễ kỷ niệm năm 2024, thông điệp tôn vinh, tri ân, chia sẻ kiến thức và kết nối những người làm hữu cơ tiếp tục được nhấn mạnh. Qua các dấu mốc, Ngày Hữu cơ Việt Nam trở thành dịp nhắc lại trách nhiệm chung: người sản xuất thực hành đúng tiêu chuẩn, doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, người tiêu dùng đồng hành với những sản phẩm được kiểm chứng.

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa.
Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa.

Những bước tiến về chính sách, sản xuất và hội nhập

Một thành tựu quan trọng của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam là từng bước hình thành nền tảng pháp lý và tiêu chuẩn. Nếu tại lễ phát động năm 2017, việc xây dựng chính sách riêng cho hữu cơ còn là nhiệm vụ đang được thúc đẩy, thì ngày 29/8/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ.

Tiếp đó, Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã xác lập định hướng dài hạn. Cùng với bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041, các văn bản này tạo cơ sở để tổ chức sản xuất, chứng nhận, quản lý chất lượng và triển khai chính sách hỗ trợ. Nông nghiệp hữu cơ có thêm điều kiện để phát triển theo những yêu cầu thống nhất, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị nông sản.

Theo báo cáo The World of Organic Agriculture 2026, do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ và IFOAM – Organics International công bố, năm 2024 Việt Nam có 125.045 ha đất nông nghiệp hữu cơ, chiếm khoảng 1,07% diện tích đất nông nghiệp và đứng thứ 5 châu Á; số nhà sản xuất hữu cơ đạt 65.466.

Báo cáo còn ghi nhận 17.946 tấn sản phẩm hữu cơ từ Việt Nam vào Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ trong năm 2024. Số liệu này phần nào cho thấy khả năng tham gia vào những thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc của sản phẩm hữu cơ của Việt Nam.

Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ).

Trong quá trình chuẩn hóa, VOAA tiếp tục đóng góp thông qua việc xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA trên nền tảng tiêu chuẩn PGS Việt Nam. Bộ tiêu chuẩn bao quát nhiều lĩnh vực, từ trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên đến chế biến và vật tư đầu vào. Tiêu chuẩn hữu cơ VOAA tiếp tục có tên trong Gia đình tiêu chuẩn IFOAM, với phạm vi được ghi nhận gồm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên, chế biến và xử lý sản phẩm. Đây là bước tiến trong việc kết nối thực hành trong nước với các yêu cầu hữu cơ quốc tế.

Với sản xuất quy mô nhỏ, Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) cũng là một đóng góp đáng chú ý. Theo cách tiếp cận của IFOAM, PGS dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan, sự tin cậy và trao đổi kiến thức. Cơ chế này tạo điều kiện để người sản xuất cùng giám sát, học hỏi và chia sẻ trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, qua đó củng cố mối liên kết với người tiêu dùng.

Năm 2025, VOAA phối hợp với IFOAM châu Á tổ chức Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 (OAC 8) tại Ninh Bình, thu hút hơn 550 đại biểu từ 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc đăng cai một diễn đàn hữu cơ lớn của khu vực cho thấy vai trò kết nối ngày càng rõ hơn của Việt Nam trong mạng lưới hữu cơ châu Á.

Ở góc độ địa phương, Thái Nguyên tiếp tục cho thấy sự nối tiếp từ nền tảng ban đầu. Thông tin tại Đại hội Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên ngày 28/8/2026 cho biết, diện tích cây trồng được chứng nhận hữu cơ của tỉnh đạt gần 200 ha, trong đó chè khoảng 178 ha. Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 – 2031, cũng đánh dấu bước phát triển về tổ chức, tăng khả năng tập hợp nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế.
Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình (OAC 8) năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế.

Tiếp nối thành tựu bằng chất lượng và niềm tin

Dù đã đứng trong nhóm đầu châu Á, diện tích hữu cơ mới chiếm khoảng 1,07% đất nông nghiệp của Việt Nam. Khoảng cách giữa vị trí xếp hạng và tỷ trọng thực tế cho thấy dư địa còn lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải chú trọng chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì vùng sản xuất, thay vì chỉ chạy theo mở rộng diện tích.

Đối với nông dân, quá trình chuyển đổi đòi hỏi thời gian cải tạo đất, thay đổi tập quán canh tác, ghi chép và kiểm soát đầu vào. Để người sản xuất kiên trì, hỗ trợ cần đi cùng toàn bộ quá trình ấy, từ hướng dẫn kỹ thuật đến duy trì chứng nhận và tìm đầu ra. Liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa bền vững khi trách nhiệm và lợi ích được chia sẻ rõ ràng.

Niềm tin thị trường cần được bảo vệ bằng thông tin có thể kiểm tra. Tên gọi “hữu cơ” phải gắn với tiêu chuẩn áp dụng, quy trình được kiểm soát và sự tuân thủ trong suốt chuỗi sản xuất, chế biến, phân phối. Khi chất lượng được duy trì ổn định, người tiêu dùng mới có cơ sở lựa chọn, còn người làm đúng mới được ghi nhận xứng đáng.

Từ góc độ đó, Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp để lan tỏa kiến thức thiết thực: hiểu đúng tiêu chuẩn, biết cách nhận diện sản phẩm và thấy được công sức phía sau mỗi mùa vụ. Hoạt động tôn vinh cũng cần giúp những kinh nghiệm tốt được chia sẻ, để các mô hình hiệu quả có thêm cơ hội kết nối và phát triển.

Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh giá trị của nông nghiệp hữu cơ vượt ra ngoài hiệu quả kinh tế của từng sản phẩm, gắn với các mối quan hệ công bằng, hài hòa trong hệ sinh thái và trách nhiệm với thế hệ mai sau. Quan điểm ấy tiếp nối tinh thần của lễ phát động năm 2017, đặt con người và môi trường sống ở trung tâm của quá trình phát triển.

Hướng tới ngày 19/9/2026, sự tri ân dành cho những người làm hữu cơ cần được tiếp nối bằng sự đồng hành cụ thể. Mỗi vùng đất được chăm sóc bền bỉ, mỗi quy trình được thực hiện nghiêm túc, mỗi chuỗi liên kết giữ được niềm tin sẽ góp phần làm dày thêm thành tựu của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Đó cũng là cách để ý nghĩa của ngày hội hiện diện trong đời sống hằng ngày, từ người nông dân trên đồng ruộng đến bữa ăn của mỗi gia đình.

Thực hiện: Phạm Thông

phamthong.nnhcvn@gmail.com
Theo https://nongnghiephuuco.vn/

 

Từ phân bón biochar đến hành trình xây dựng những vùng nông sản hiệu quả cao

Trong hành trình chuyển dịch tư duy sản xuất nông nghiệp từ lượng sang chất, ngành nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một cuộc cách mạng xanh chưa từng có. Áp lực từ các thị trường xuất khẩu khó tính, các tiêu chuẩn khắt khe về phát thải và xu hướng kinh tế tuần hoàn đòi hỏi chuỗi giá trị nông sản phải tự làm mới mình từ gốc.

 

Giữa bức tranh chuyển đổi đó, Công ty Cổ phần Mekong Green Tech dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch HĐQT Lê Quý Vinh đã nổi lên như một điểm sáng tiên phong. Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp các giải pháp công nghệ nhiệt phân chậm hiện đại với quy mô nhà máy rộng 4,4 ha, công suất 24 tấn/ngày vận hành theo chuẩn SCADA, Mekong Green Tech còn đang viết nên câu chuyện thương hiệu đầy cảm hứng: Biến phụ phẩm nông nghiệp thành “vàng đen” biochar, kiến tạo những vùng nguyên liệu và nông sản hiệu quả cao gắn liền với mục tiêu thương mại hóa tín chỉ carbon.

 

  1. Triết lý tuần hoàn: Biến gánh nặng môi trường thành tài nguyên chiến lược

Sự ra đời của Mekong Green Tech xuất phát từ một trăn trở rất thực tế tại các vùng nông nghiệp trọng điểm trên cả nước. Mỗi năm, hàng triệu tấn phụ phẩm từ quá trình chế biến nông sản như vỏ trấu, rơm rạ, vỏ cà phê ở Tây Nguyên, vỏ sầu riêng tại Đồng bằng sông Cửu Long, hay thân và vỏ sắn tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, thường bị bỏ phí hoặc xử lý bằng cách đốt thủ công, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và phát thải lượng lớn khí nhà kính.

Thay vì xem đó là rác thải, đội ngũ Mekong Green Tech đã nhìn nhận đây là một nguồn tài nguyên carbon khổng lồ chưa được đánh thức. Bằng việc ứng dụng công nghệ nhiệt phân chậm tiên tiến trong môi trường yếm khí được kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ từ 500oC đến 700 oC, doanh nghiệp đã chế tạo thành công hệ thống lò nung thân thiện với môi trường, giảm tới 95% lượng khí thải và hoàn toàn tự chủ năng lượng nhờ thu hồi khí sinh học (Syngas) phục vụ sấy.

Sản phẩm đầu ra là than sinh học (biochar) sở hữu cấu trúc siêu xốp, diện tích bề mặt lớn và hàm lượng carbon cố định cao. Khi được ứng dụng trở lại vào đất, biochar đóng vai trò như một “miếng bọt biển” giữ nước, giữ dinh dưỡng tối ưu, khử độc tố, ngăn chặn sự xâm nhập của kim loại nặng như Cadimi vào nông sản, đồng thời lưu giữ carbon trong đất hàng trăm năm. Từ một ý tưởng công nghệ, Mekong Green Tech đã cụ thể hóa thành hệ sinh thái sản phẩm thương mại gồm phân bón biochar hữu cơ, chất cải tạo đất chuyên canh và đệm lót sinh học trong chăn nuôi.

 

  1. Dấu ấn chiến lược tại các vùng nông sản trọng điểm: Từ Sơn La, Tây Nguyên đến Đồng bằng sông Cửu Long

Câu chuyện thương hiệu của Mekong Green Tech gắn liền với những bước chân thực tế tại các vùng sinh thái nông nghiệp đặc thù của Việt Nam, nơi doanh nghiệp đang đồng hành cùng các hợp tác xã và trang trại lớn để xây dựng những mô hình nông sản hiệu quả cao.

2.1 Miền núi phía Bắc và Sơn La: Tuần hoàn phụ phẩm cây công nghiệp ngắn ngày

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, nơi diện tích trồng sắn và cây ăn quả lớn, lượng thân cây, vỏ sắn sau chế biến rất dồi dào. Mekong Green Tech đã cung cấp các dòng lò nung biochar quy mô linh hoạt, phù hợp với mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã tại địa phương. Việc đưa lò nung đến tận cơ sở giúp bà con nông dân tự chủ động xử lý triệt để phụ phẩm ngay tại chỗ, tạo ra nguồn phân bón biochar hữu cơ chất lượng cao để bón cho chính các vùng nguyên liệu canh tác dưới tán rừng hoặc cây ăn quả. Nhờ đó, chi phí mua phân bón hóa học giảm mạnh, đất đai được phục hồi độ phì nhiêu sau nhiều vụ canh tác lạm dụng hóa chất.

2.2 Vùng cao nguyên Tây Nguyên: Giải bài toán phụ phẩm cà phê và sầu riêng

Tại Tây Nguyên – thủ phủ cà phê và cây ăn quả của cả nước, bài toán xử lý hàng triệu tấn vỏ cà phê và vỏ sầu riêng luôn là nỗi trăn trở của các doanh nghiệp. Thông qua các giải pháp công nghệ nhiệt phân tự động, Mekong Green Tech đã kết hợp cùng các chủ trang trại lớn biến những khối lượng phụ phẩm cồng kềnh này thành nguồn biochar nguyên chất. Việc phối trộn biochar vào đất đỏ bazan không chỉ giúp giữ ẩm cực tốt trong mùa khô hạn mà còn tạo môi trường cho hệ vi sinh vật có lợi phát triển, giúp những vườn cà phê, sầu riêng đạt năng suất vượt trội, mẫu mã đẹp và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe.

2.3 Đồng bằng sông Cửu Long: Nông nghiệp xanh từ vựa lúa và trái cây

Đặt trụ sở tại Cần Thơ – trái tim của miền Tây Nam Bộ, nhà máy quy mô 4,4 ha của Mekong Green Tech chính là “trái tim” cung ứng biochar công suất lớn (24 tấn/ngày) cho toàn khu vực. Tại đây, doanh nghiệp tận dụng triệt để nguồn trấu, rơm rạ và phụ phẩm trái cây để sản xuất vật liệu cải tạo các vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn. Sự kết hợp giữa biochar và các mô hình canh tác lúa gạo thông minh, giảm phát thải đã giúp nông dân vùng đồng bằng gia tăng giá trị hạt gạo, hướng tới nền nông nghiệp phát thải thấp.

 

  1. Kiến tạo thị trường tín chỉ carbon: Giá trị gia tăng kép cho doanh nghiệp và nông dân

Không dừng lại ở việc cải thiện năng suất cây trồng và chất lượng đất đai, bước đi chiến lược của Mekong Green Tech còn nằm ở tầm nhìn dài hạn gắn liền với thị trường tín chỉ carbon – xu hướng tất yếu của kinh tế toàn cầu giai đoạn 2026 – 2030.

Bản chất của biochar là một cơ chế cô lập carbon sinh học vĩnh cửu. Khi hàng nghìn tấn carbon từ phế phụ phẩm nông nghiệp được chuyển hóa thành dạng than ổn định và vùi sâu vào lòng đất, lượng carbon đó sẽ bị khóa chặt hàng trăm năm thay vì phát thải trở lại khí quyển dưới dạng CO2 hay methane (CH4).

Dựa trên nền tảng công nghệ đo lường minh bạch, quy trình sản xuất đạt chuẩn công nghiệp và hệ thống giám sát tự động hóa, Mekong Green Tech đang phối hợp cùng các đối tác lớn thiết lập cơ sở dữ liệu xác thực để quy đổi lượng carbon lưu giữ thành các chứng chỉ carbon chất lượng cao (như tiêu chuẩn CORC). Điều này mang lại giá trị gia tăng kép vô cùng lớn:

  • Đối với doanh nghiệp và trang trại: Ngoài nguồn thu từ việc bán nông sản chất lượng cao, việc áp dụng quy trình sản xuất gắn liền với biochar giúp các tập đoàn lớn dễ dàng đạt điểm số ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) cao, đáp ứng trọn vẹn tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Mỹ và các quốc gia phát triển.
  • Đối với bà con nông dân và hợp tác xã: Mô hình liên kết chuỗi giá trị do Mekong Green Tech xây dựng mở ra cơ hội mới, giúp người nông dân không chỉ làm giàu từ năng suất cây trồng mà còn có thêm nguồn thu nhập bền vững từ việc tham gia thị trường tín chỉ carbon nội địa và quốc tế.
  1. Tầm nhìn tương lai: Lan tỏa mạng lưới “Nông nghiệp không rác thải”

Câu chuyện thương hiệu của Mekong Green Tech là minh chứng sinh động cho thấy công nghệ cao hoàn toàn có thể hòa quyện cùng nông nghiệp truyền thống để tạo ra những giá trị đột phá. Bằng việc thiết kế đa dạng các dòng thiết bị từ quy mô nông hộ, hợp tác xã cho đến các hệ thống công nghiệp công suất lớn, doanh nghiệp đang hiện thực hóa mục tiêu đưa công nghệ nhiệt phân tiếp cận sâu rộng đến từng vùng nông thôn Việt Nam.

Trong bối cảnh chính sách nhà nước ngày càng khuyến khích mạnh mẽ kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp hữu cơ thông qua các hành lang pháp lý vững chắc, Mekong Green Tech tiếp tục đóng vai trò là “người kiến tạo”, kết nối các nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ, hợp tác xã và nông dân lại với nhau trong một chuỗi giá trị khép kín.

Từ một hạt phân bón biochar nhỏ bé được ép từ phụ phẩm đồng ruộng, Mekong Green Tech đang từng bước đánh thức những “mỏ vàng” tiềm năng của đất mẹ, xây dựng nên những vùng nông sản hiệu quả cao, phát thải thấp và đưa thương hiệu nông nghiệp Việt Nam tự tin vươn xa trên bản đồ kinh tế xanh toàn cầu.

 

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban công nghệ và truyền thông

Đồng hành cùng nhà nông xây dựng nền nông nghiệp xanh từ đất khỏe đến nông sản sạch

Không chỉ cung cấp phân bón vi sinh hữu cơ, Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính đang từng bước xây dựng hướng tiếp cận mới: kết hợp sản phẩm, khoa học kỹ thuật và đồng hành cùng người nông dân, góp phần hình thành những vùng sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững và có giá trị cao.

 

Muốn cây trồng phát triển bền vững, trước hết phải quan tâm đến đất

Trong sản xuất nông nghiệp hiện đại, năng suất không còn là tiêu chí duy nhất quyết định thành công của một mùa vụ. Người sản xuất ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nông sản, độ an toàn, chi phí đầu vào, sức khỏe đất và khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt, khi nông nghiệp đang chuyển dần sang các mô hình sản xuất an toàn, sinh thái và bền vững, việc sử dụng phân bón hợp lý trở thành một trong những yếu tố quan trọng của quy trình canh tác.

Một nền đất được chăm sóc tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển, hỗ trợ cây hấp thu nước và dinh dưỡng, đồng thời góp phần duy trì khả năng sản xuất lâu dài của đất.

Ngược lại, nếu quá chú trọng vào việc cung cấp dinh dưỡng nhanh cho cây mà thiếu quan tâm đến chất hữu cơ, hệ sinh thái đất và cân bằng dinh dưỡng, đất có thể bị suy giảm chất lượng theo thời gian.

Từ thực tế đó, xu hướng sử dụng các sản phẩm phân bón hữu cơ, phân bón vi sinh và các giải pháp dinh dưỡng thân thiện hơn với môi trường ngày càng được người sản xuất quan tâm.

Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính xác định đây không chỉ là cơ hội phát triển sản phẩm, mà còn là một hướng đi lâu dài nhằm đồng hành cùng nhà nông trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất.

 

Từ sản phẩm phân bón đến giải pháp chăm sóc đất và cây trồng

Một trong những định hướng quan trọng của Chung Thịnh Chính là phát triển phân bón vi sinh hữu cơ theo hướng gắn sản phẩm với nhu cầu thực tế của từng vùng sản xuất. Bởi mỗi loại cây trồng có đặc điểm sinh trưởng khác nhau, mỗi vùng đất lại có điều kiện dinh dưỡng và canh tác riêng. Vì vậy, việc sử dụng phân bón cần dựa trên đặc điểm cây trồng, đất đai, mùa vụ và quy trình sản xuất cụ thể.

Phân bón vi sinh hữu cơ, khi được sử dụng đúng sản phẩm, đúng hướng dẫn và phù hợp với điều kiện canh tác, có thể trở thành một thành phần trong chương trình quản lý dinh dưỡng và cải thiện đất theo hướng bền vững.

Định hướng của Chung Thịnh Chính vì thế không dừng lại ở việc đưa sản phẩm ra thị trường.

HTX hướng tới xây dựng một mô hình trong đó sản phẩm đi cùng kiến thức kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng và quá trình theo dõi ngoài đồng ruộng. Đây cũng là điểm quan trọng để tạo dựng niềm tin với người nông dân. Bởi với nhà nông, một sản phẩm tốt không chỉ được đánh giá bằng bao bì hay thông tin quảng bá, mà cần được chứng minh bằng tính phù hợp trong quá trình sử dụng và hiệu quả kinh tế của cả quy trình sản xuất.

 

Kết hợp cùng chuyên gia, đưa khoa học đến gần hơn với đồng ruộng

Để nâng cao chất lượng chuyên môn, Chung Thịnh Chính định hướng phối hợp với các chuyên gia của Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật, kiểm chứng thực tế và chuyển giao các giải pháp phù hợp đến người sản xuất.

Sự kết hợp giữa một đơn vị trực tiếp sản xuất – kinh doanh nông nghiệp với đội ngũ chuyên gia có chuyên môn được kỳ vọng tạo ra cầu nối hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất. Thay vì để các giải pháp kỹ thuật chỉ nằm trong tài liệu nghiên cứu, mục tiêu là đưa kiến thức đó đến gần hơn với những người trực tiếp làm ra nông sản.

Quá trình này có thể bắt đầu từ việc tìm hiểu điều kiện đất đai, cây trồng và phương thức canh tác; lựa chọn giải pháp phù hợp; xây dựng mô hình; theo dõi sự phát triển của cây; ghi nhận kết quả và tiếp tục điều chỉnh quy trình khi cần thiết.

Thông qua thực tiễn sản xuất, những kinh nghiệm của nhà nông cũng có thể được phản hồi ngược trở lại cho quá trình hoàn thiện giải pháp.

Khoa học không thay thế kinh nghiệm của người nông dân, mà giúp kinh nghiệm ấy được chuẩn hóa, kiểm chứng và phát huy hiệu quả tốt hơn.

Ông Nguyễn Quang Chung, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX CTC đang thảo luận cùng TS Nguyễn Xuân Hòa, Chuyên gia phân bón của VITAD-AGRI

 

Hướng tới những vùng đặc sản của Thái Nguyên

Thái Nguyên có nhiều sản phẩm nông nghiệp mang tính đặc trưng, trong đó nổi bật là chè cùng nhiều vùng sản xuất na, bưởi, trám và lúa nếp bao thai. Đây là những ngành hàng có tiềm năng phát triển thành các vùng nguyên liệu chất lượng cao nếu được tổ chức sản xuất bài bản, kiểm soát tốt đầu vào và xây dựng được chuỗi liên kết ổn định.

Với cây chè, yêu cầu về chất lượng nguyên liệu, an toàn thực phẩm và quy trình chăm sóc ngày càng được chú trọng. Việc quản lý đất, dinh dưỡng và sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng vùng nguyên liệu.

Ở các vùng trồng na, bưởi và trám, cây lâu năm cần một chế độ chăm sóc có tính liên tục, trong đó sức khỏe đất và bộ rễ là những yếu tố cần được quan tâm trong suốt chu kỳ sản xuất.

Trong khi đó, lúa nếp bao thai không chỉ là cây lương thực mà còn gắn với giá trị đặc sản địa phương. Việc xây dựng quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát vật tư đầu vào và nâng cao chất lượng hạt gạo sẽ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm.

Đây chính là những lĩnh vực mà Chung Thịnh Chính mong muốn từng bước tiếp cận, không chỉ với vai trò nhà cung cấp phân bón mà còn là đối tác đồng hành của các hộ nông dân, tổ hợp tác và hợp tác xã trong xây dựng vùng sản xuất.

 

Mỗi vùng trồng cần một quy trình phù hợp

Một trong những nguyên tắc được Chung Thịnh Chính hướng tới là không áp dụng máy móc một công thức cho tất cả cây trồng.

Cây chè có nhu cầu khác cây ăn quả. Na có đặc điểm khác bưởi. Cây lâu năm lại có yêu cầu khác với cây lúa.

Ngay cả cùng một loại cây, nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi theo tuổi cây, mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng, điều kiện đất và mục tiêu sản xuất. Vì vậy, việc sử dụng phân bón vi sinh hữu cơ cần được đặt trong một quy trình tổng thể, kết hợp quản lý đất, nước, dinh dưỡng, sinh vật gây hại và các biện pháp canh tác phù hợp.

Định hướng này cũng mở ra khả năng xây dựng các mô hình trình diễn tại địa phương. Từ một số hộ sản xuất ban đầu, HTX có thể phối hợp với các tổ chức sản xuất lựa chọn diện tích phù hợp để triển khai mô hình, theo dõi quá trình canh tác và đánh giá các chỉ tiêu cần thiết. Khi có kết quả thực tế, mô hình có thể trở thành địa điểm tham quan, trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng.

Một mô hình tốt có thể thuyết phục người nông dân hiệu quả hơn hàng nghìn lời quảng cáo.

 

Từ sản xuất an toàn đến câu chuyện VietGAP, OCOP và Organic

Thị trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nông sản. Người tiêu dùng muốn biết sản phẩm được trồng ở đâu, sản xuất như thế nào và có đảm bảo an toàn hay không.

Đó cũng là lý do nhiều vùng sản xuất quan tâm đến VietGAP, phát triển sản phẩm OCOP và xa hơn là hướng tới sản xuất hữu cơ.

Trong hành trình này, phân bón vi sinh hữu cơ có thể đóng vai trò là một trong những đầu vào của quy trình sản xuất phù hợp.

Tuy nhiên, không thể đồng nhất việc sử dụng phân bón hữu cơ hoặc vi sinh với việc sản phẩm mặc nhiên đạt chứng nhận VietGAP, OCOP hay Organic.

Mỗi tiêu chuẩn và chương trình đều có hệ thống yêu cầu riêng. Để đạt được chứng nhận hoặc đáp ứng các tiêu chí tương ứng, người sản xuất cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung từ giống, đất, nước, vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc, kiểm soát dịch hại, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến hồ sơ và truy xuất nguồn gốc.

Chung Thịnh Chính xác định vai trò của mình là đồng hành về sản phẩm, kỹ thuật và giải pháp đầu vào, góp phần hỗ trợ nhà nông xây dựng nền tảng sản xuất phù hợp với những yêu cầu đó.

Đây là một cách tiếp cận thực tế, bởi mục tiêu cuối cùng không phải là một khẩu hiệu “hữu cơ” trên bao bì, mà là một quy trình sản xuất có trách nhiệm và có khả năng kiểm chứng.

 

Xây dựng thương hiệu từ niềm tin của người nông dân

Trong lĩnh vực nông nghiệp, thương hiệu không thể hình thành chỉ bằng truyền thông.

Một thương hiệu phân bón muốn tồn tại lâu dài cần có sản phẩm phù hợp, chất lượng ổn định, hướng dẫn kỹ thuật rõ ràng và dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng.

Chung Thịnh Chính có thể xây dựng chiến lược thị trường theo hướng phát triển mạng lưới đại lý song song với tiếp cận trực tiếp các vùng sản xuất. Tại mỗi địa phương, HTX phối hợp với các hộ nông dân và tổ chức sản xuất xây dựng mô hình; tổ chức hội thảo đầu bờ; hướng dẫn sử dụng; ghi nhận phản hồi và từng bước hình thành những vùng khách hàng trung thành dựa trên kết quả thực tế. Cùng với đó, website, Facebook, TikTok và YouTube của HTX sẽ trở thành những kênh truyền tải kiến thức về đất, cây trồng, phân bón và câu chuyện vùng sản xuất.

Những hình ảnh từ đồng ruộng, nhật ký mô hình, chia sẻ của nông dân và kết quả thực tế sẽ tạo nên một hệ thống truyền thông gần gũi, minh bạch và có sức thuyết phục.

 

Khát vọng tạo dựng những vùng nông sản giá trị cao

Với Chung Thịnh Chính, câu chuyện về phân bón vi sinh hữu cơ không chỉ bắt đầu từ nhà máy và kết thúc ở một bao sản phẩm được giao đến khách hàng.

Hành trình ấy cần tiếp tục trên đồng ruộng – nơi người nông dân trực tiếp sử dụng sản phẩm và quyết định hiệu quả cuối cùng của một giải pháp.

Sự phối hợp giữa HTX Chung Thịnh Chính và các chuyên gia VITAD-AGRI trong nghiên cứu khoa học, kiểm chứng thực tế và chuyển giao kỹ thuật là một hướng đi nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, đưa những giải pháp phù hợp đến gần hơn với bà con nông dân.

Từ vùng chè Thái Nguyên đến những vườn na, bưởi, trám và cánh đồng lúa nếp bao thai, mỗi vùng đất đều có thể trở thành một câu chuyện riêng về hành trình chuyển đổi nông nghiệp. Ở đó, đất được quan tâm hơn, cây được chăm sóc khoa học hơn, người nông dân được hỗ trợ tốt hơn và nông sản có thêm cơ hội gia tăng giá trị.

VietGAP có thể là một bước đi trong hành trình sản xuất an toàn. OCOP có thể mở ra cơ hội nâng tầm sản phẩm địa phương. Còn sản xuất hữu cơ là một hướng phát triển dài hạn, đòi hỏi quy trình chặt chẽ và sự kiên trì của cả vùng sản xuất.

Chung Thịnh Chính mong muốn góp một phần vào hành trình ấy bằng sản phẩm phân bón vi sinh hữu cơ, kiến thức kỹ thuật và sự đồng hành lâu dài với nhà nông.

Bởi suy cho cùng, giá trị của một sản phẩm phân bón không chỉ nằm ở lượng sản phẩm bán ra thị trường, mà còn ở những giá trị được tạo nên sau đó: một mảnh đất được chăm sóc tốt hơn, một vùng nguyên liệu được tổ chức tốt hơn, một sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn và một cuộc sống tốt hơn cho người nông dân.

Từ nhà máy đến đồng ruộng – từ đất khỏe đến nông sản sạch – Chung Thịnh Chính hướng tới trở thành người bạn đồng hành cùng nhà nông trên hành trình xây dựng nền nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững.

 

Thực hiện: Thành Vinh; Phó ban công nghệ và truyền thông

Vai trò của đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ đối với nguồn nhân lực doanh nghiệp và hợp tác xã trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là chiến lược sống còn để nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại Việt Nam. Các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước như Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ hay Quyết định số 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất trong thực tiễn triển khai không nằm ở cơ chế chính sách hay nguồn vốn, mà xuất phát từ chất lượng nguồn nhân lực.

 

  1. Chuyển dịch tư duy sản xuất và yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực nông nghiệp hữu cơ

Hầu hết cán bộ quản lý, kỹ thuật viên tại các doanh nghiệp nông nghiệp và hợp tác xã (HTX) hiện nay vẫn mang tư duy canh tác truyền thống (lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vô cơ). Việc chuyển đổi sang mô hình NNHC đòi hỏi một cuộc cách mạng về nhận thức, kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành chuẩn hóa. Trong bức tranh đó, công tác đào tạo, tập huấn đóng vai trò là “chìa khóa” cốt lõi. Bài viết này phân tích tầm quan trọng của việc đào tạo NNHC cho đội ngũ nhân sự nòng cốt tại các doanh nghiệp và HTX, đồng thời ghi nhận vai trò tiên phong của Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong công tác đào tạo chuyên môn, cùng sự tham gia thực tiễn đầy quyết tâm của các đơn vị học viên tiêu biểu như Công ty Cổ phần Mekong Green TechHợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính.

 

  1. Bản chất và tầm quan trọng của đào tạo nông nghiệp hữu cơ đối với doanh nghiệp và hợp tác xã

Nông nghiệp hữu cơ không đơn thuần là “không dùng hóa chất”, mà là một hệ thống quản lý toàn diện nhằm khôi phục và duy trì sự cân bằng sinh thái của hệ sinh thái đất – nước – cây trồng – vật nuôi. Đối với các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp và HTX, việc đào tạo bài bản mang lại những giá trị chiến lược sau:

– Chuẩn hóa tư duy hệ thống và quản trị chuỗi giá trị

Cán bộ, nhân viên là những người trực tiếp hoạch định kế hoạch sản xuất, xây dựng quy trình kỹ thuật và kiểm soát chất lượng đầu ra. Đào tạo giúp họ thấu hiểu các tiêu chuẩn hữu cơ khắt khe trong nước và quốc tế (như TCVN, USDA, EU organic), từ đó thiết lập tư duy quản trị theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu cải tạo đất, chọn giống, chăm sóc đến thu hoạch và chế biến sâu.

– Giải quyết bài toán tuân thủ pháp lý và tiêu chuẩn ESG

Các thị trường xuất khẩu lớn cũng như phân khúc tiêu dùng cao cấp trong nước đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch hóa quy trình sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường – xã hội – quản trị (ESG). Đào tạo giúp đội ngũ nhân sự nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật, biết cách lập hồ sơ minh bạch nguồn gốc (traceability) và kiểm soát dư lượng kim loại nặng, hóa chất độc hại.

  • Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kinh tế tuần hoàn

Nhân sự qua đào tạo bài bản sẽ có khả năng làm chủ các công nghệ mới như sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, công nghệ nhiệt phân sinh khối (Biochar), hay tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, phụ phẩm sắn) để tái tạo dinh dưỡng cho đất. Điều này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính và gia tăng nguồn thu từ tín chỉ carbon.

 

  1. Vai trò tiên phong của Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong công tác đào tạo

Để công tác đào tạo NNHC đạt hiệu quả thực chất, việc sở hữu một đội ngũ chuyên gia giảng dạy am hiểu cả lý luận khoa học lẫn thực tiễn sản xuất là điều kiện tiên quyết. Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) đã khẳng định vai trò là đơn vị sự nghiệp khoa học và đào tạo hàng đầu, đóng vai trò “bà đỡ” tri thức cho cộng đồng doanh nghiệp và HTX nông nghiệp.

– Cung cấp đội ngũ giảng viên chất lượng cao: VITAD-AGRI quy tụ mạng lưới các nhà khoa học, giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thổ nhưỡng, bảo vệ thực vật, vi sinh học nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Các giảng viên của Viện không chỉ truyền đạt hàn lâm mà còn mang đến những kinh nghiệm thực chiến đắt giá từ các dự án khảo nghiệm, chuỗi giá trị liên kết rộng khắp cả nước.

– Xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa và thực tiễn: Các khóa tập huấn do VITAD-AGRI thiết kế luôn bám sát nhu cầu thực tế của thị trường và đặc thù sinh thái từng vùng miền. Chương trình kết hợp hài hòa giữa kiến thức nền tảng về sinh thái đất, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kiểm soát chất lượng vi sinh vật với các kỹ năng quản trị kinh doanh nông nghiệp hiện đại.

– Cầu nối chuyển giao công nghệ: Thông qua các chương trình tập huấn, VITAD-AGRI trực tiếp chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới nhất đến các đơn vị sản xuất, giúp rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra đến đồng ruộng và nhà máy chế biến.

 

  1. Thực tiễn học tập và ứng dụng từ các đơn vị tiên phong: Mekong Green Tech và HTX Chung Thịnh Chính

Hiệu quả của công tác đào tạo chỉ được đo lường chính xác qua sự chuyển hóa trong hành động thực tiễn của các học viên. Điển hình cho tinh thần cầu thị và khát vọng chuyển đổi xanh là sự tham gia tích cực của Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính vào các chương trình tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu.

Công ty Cổ phần Mekong Green Tech: Tư duy công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn

– Là doanh nghiệp hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực giải pháp nhiệt phân sinh khối, sản xuất than sinh học (Biochar) và xử lý phụ phẩm nông nghiệp, đội ngũ nhân sự kỹ thuật của Mekong Green Tech luôn chủ động tham gia các khóa cập nhật kiến thức chuyên môn do VITAD-AGRI và các cơ quan chuyên ngành tổ chức.

– Ứng dụng thực tiễn: Nhờ được đào tạo bài bản về cấu trúc đất, cơ chế trao đổi ion và tính chất hóa lý của Biochar, đội ngũ Mekong Green Tech đã nghiên cứu và thương mại hóa thành công các giải pháp tận dụng phụ phẩm (như vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, vỏ và thân sắn tại Sơn La) để sản xuất vật liệu cải tạo đất chuyên canh và xử lý kim loại nặng. Sự kết hợp giữa nền tảng kiến thức khoa học nông nghiệp và công nghệ tự động hóa đã giúp doanh nghiệp phát triển các dự án quy mô lớn, gắn kết hiệu quả với các trang trại lớn như Đà Lạt Milk trong việc giám sát và cải thiện môi trường chuồng nuôi.

Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính: Đổi mới tư duy sản xuất tại địa phương

Đóng chân tại xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, HTX Chung Thịnh Chính là mô hình tiêu biểu cho thấy tầm quan trọng của việc đưa tri thức khoa học về cơ sở.

– Ứng dụng thực tiễn: Cán bộ và xã viên của HTX đã tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác dưới tán rừng, quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và tiêu chuẩn hóa chất lượng nông sản. Kiến thức thu được từ các chuyên gia đã giúp HTX quy hoạch vùng trồng dược liệu và cây ăn quả theo hướng hữu cơ, tối ưu hóa quy trình chăm sóc, đồng thời xây dựng thương hiệu, website https://chungthinhchinh.vn và nhận diện bao bì chuyên nghiệp. Qua đó, HTX không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra sinh kế bền vững cho hàng chục nông hộ thành viên.

 

Mekong Green Tech và HTX Chung Thịnh Chính tham gia tập huấn về Nông nghiệp hữu cơ do VITAD-AGRI giảng dạy

 

  1. Thách thức và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nông nghiệp hữu cơ trong giai đoạn tới

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, công tác đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ cho doanh nghiệp và HTX hiện nay vẫn đối mặt với một số rào cản:

  1. Tính biến động của nguồn lực lao động: Nhân sự tại các HTX và nông hộ thường có trình độ không đồng đều, dễ dao động theo thời vụ, gây khó khăn cho việc duy trì kiến thức chuyên sâu dài hạn.
  2. Sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành tại chỗ: Đôi khi các chương trình tập huấn còn mang tính lý thuyết diện rộng, thiếu các mô hình thực hành cầm tay chỉ việc ngay trên đồng ruộng của đơn vị.

Để khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo trong thời gian tới, cần tập trung đồng bộ các giải pháp:

– Đổi mới phương thức đào tạo theo mô hình “Đào tạo kèm cặp thực tế” (Mentorship): Các chuyên gia từ các viện nghiên cứu như VITAD-AGRI cần có thời gian đồng hành trực tiếp tại hiện trường doanh nghiệp/HTX để hướng dẫn xử lý các vấn đề phát sinh cụ thể trong đất, nước và dịch bệnh.

– Tăng cường số hóa học liệu: Xây dựng các nền tảng học tập trực tuyến, video hướng dẫn trực quan để cán bộ công nhân viên có thể tự ôn tập, tra cứu quy trình kỹ thuật mọi lúc, mọi nơi.

– Đẩy mạnh liên kết “Ba nhà” (Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp/HTX): Đảm bảo các chương trình tập huấn được đặt hàng trực tiếp từ nhu cầu thực tế của thị trường và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, gắn kết chặt chẽ quyền lợi kinh tế với việc tuân thủ quy chuẩn hữu cơ.

 

  1. Kết luận

Đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ không chỉ là hoạt động bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn mà là khoản đầu tư chiến lược mang tính nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam. Sự đóng góp thầm lặng nhưng bền bỉ của các đơn vị nghiên cứu, đào tạo như Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong việc cung cấp đội ngũ giảng viên chất lượng cao chính là “bệ phóng” tri thức vững chắc. Song hành cùng đó, sự dấn thân, cầu thị và áp dụng quyết liệt vào thực tiễn sản xuất của các đơn vị tiên phong như Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính là minh chứng sống động cho thấy hiệu quả thiết thực của mô hình đào tạo gắn liền với thực tiễn. Đầu tư đúng mức cho con người hôm nay chính là chìa khóa để nông nghiệp Việt Nam vươn xa, tự tin hội nhập và phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên kinh tế xanh toàn cầu.

 

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban công nghệ và truyền thông VITAD-AGRI, CTV của https://mkgreen.vnhttps://chungthinhchinh.vn

 

 

Ứng dụng quản trị ESG trong thực hiện nghị quyết 70/NQ-TW về an ninh năng lượng quốc gia và chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030 (quyết định 926/QĐ-TTg)

Đây là sự đột phá công nghệ Năng lượng sinh học (Bioenergy) và Than sinh học (Biochar) từ giải pháp thương mại toàn diện mà nhiều công ty đã thực hiện trong đó điển hình là Công ty Cổ phần Mekong Green Tech

  1. BỐI CẢNH NĂNG LƯỢNG VÀ THÁCH THỨC CHUYỂN ĐỔI XANH GIAI ĐOẠN 2026 – 2030

Bước vào giai đoạn 2026 – 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước “tác động kép” từ hai định hướng chiến lược quốc gia lớn:

  • Một mặt, Nghị quyết số 70/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cấp bách về việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy dịch chuyển năng lượng theo hướng xanh hóa, tăng cường tỷ trọng năng lượng tái tạo, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.
  • Mặt khác, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 926/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030, tạo cơ chế chính sách thúc đẩy các khối tư nhân tích cực áp dụng tiêu chuẩn Quản trị Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) và mô hình kinh tế tuần hoàn.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đang đặt các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản và công nghiệp phụ trợ trước những rào cản tài chính và kỹ thuật không nhỏ:

  1. Chi phí năng lượng tăng cao: Giá điện sản xuất và nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu DO/FO) biến động phức tạp, đe dọa trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
  2. Áp lực từ hàng rào kỹ thuật quốc tế: Các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản liên tục thắt chặt quy định về chứng nhận footprint carbon, chứng chỉ ESG và áp thuế carbon (như cơ chế CBAM).
  3. Thách thức xử lý phế phụ phẩm: Hàng triệu tấn phế phụ phẩm nông – lâm nghiệp (trấu, vỏ cà phê, vỏ sắn, mụn dừa, gỗ vụn) bị bỏ phí hoặc đốt xả thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Trước thực trạng đó, nhiều công ty, trong đó có Công ty Cổ phần Mekong Green Tech (MKGREEN) đã khẳng định vị thế đơn vị tiên phong khi thương mại hóa thành công giải pháp Tích hợp Năng lượng Sinh học (Bioenergy) và Than sinh học (Biochar) – mô hình “một mũi tên trúng hai đích”, giải quyết triệt để bài toán an ninh năng lượng nội bộ và nâng cao năng lực chuẩn hóa ESG cho doanh nghiệp.

 

  1. BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG NỘI BỘ VÀ TÍNH TƯƠNG THÍCH VỚI NGHỊ QUYẾT 70/NQ-TW

Nghị quyết 70/NQ-TW nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng mới là giải pháp then chốt để bảo đảm an ninh năng lượng, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu”. Mô hình Nhiệt phân (Pyrolysis) của Mekong Green Tech hiện thực hóa tinh thần này bằng cách biến rác thải/phế phụ phẩm nông nghiệp thành hai dòng năng lượng thương mại giá trị cao:

2.1. Khí sinh học (Syngas) và Nhiệt năng tự dùng

Trong quá trình nhiệt phân phụ phẩm ở nhiệt độ 500 – 700oC trong điều kiện thiếu oxy, hệ thống thiết bị sản xuất biochar thu hồi lượng lớn dòng khí tổng hợp (Syngas) giàu CO, H2 và CH4. Khí này được cấp ngược lại làm nhiên liệu đốt cho các lò sấy, lò hơi (boiler) hoặc phát điện nội bộ. Giải pháp này giúp các nhà máy chế biến nông sản tự chủ từ 60 – 100% nhu cầu nhiệt năng sấy, giảm phụ thuộc hoàn toàn vào lưới điện quốc gia và than đá, đúng theo định hướng tự chủ năng lượng của Nghị quyết 70/NQ-TW.

2.2. Than sinh học (Biochar) – Nhiên liệu xanh và Vật liệu lưu trữ Carbon

Sản phẩm đầu ra thứ hai của quá trình là Than sinh học (Biochar). Ngoài việc được ứng dụng làm chất cải tạo đất cao cấp, Biochar còn đóng vai trò là nguồn nhiên liệu sinh học rắn có chỉ số nhiệt lượng cao (trên 5.500 – 6.500 kcal/kg), hoàn toàn có khả năng thay thế than đá trong các lò đốt công nghiệp mà không phát thải khí lưu huỳnh (SOx).

 

  1. GIẢI PHÁP THƯƠNG MẠI HÓA ESG ĐỒNG HÀNH CÙNG QUYẾT ĐỊNH 926/QĐ-TTg

Quyết định 926/QĐ-TTg cung cấp các gói hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn tài chính xanh và đào tạo cho các doanh nghiệp cam kết thực hiện mô hình kinh doanh bền vững. Nhà sản xuất biochar cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp một gói giải pháp ESG toàn diện, giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng các tiêu chí thụ hưởng của Chương trình 926/QĐ-TTg:

Trụ cột ESG Tác động Kỹ thuật & Môi trường Giá trị Thương mại cho Doanh nghiệp

E – Environmental

(Môi trường)

• Chuyển hóa 100% phế phụ phẩm thành năng lượng.

• Giảm 80 – 95% phát thải khí nhà kính so với nhiên liệu truyền thống.

• Cô lập 2,2 – 2,8 tấn CO_2e trên mỗi tấn Biochar bón đất.

• Giảm ngay chi phí mua nhiên liệu sản xuất.

• Đáp ứng các tiêu chuẩn chứng nhận xanh (ISO 14064, ISO 50001).

• Tránh nguy cơ bị đánh thuế carbon CBAM khi xuất khẩu.

S – Social

(Xã hội)

• Triệt tiêu tình trạng đốt rơm rạ/phụ phẩm xả thải ra môi trường.

• Cải thiện chất lượng không khí tại địa phương.

• Tạo sinh kế và thu nhập tăng thêm cho chuỗi cung ứng nông hộ.

• Tăng chỉ số uy tín thương hiệu và trách nhiệm xã hội.

• Xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, tạo sự gắn kết chặt chẽ với người nông dân và hợp tác xã vùng nguyên liệu.

G – Governance

(Quản trị)

• Tích hợp hệ thống số hóa MRV (Đo lường, Báo cáo, Thẩm định).

• Định vị GPS và quản lý mã định danh lô hàng Biochar chuẩn hóa quốc tế.

• Dữ liệu ESG minh bạch, sẵn sàng cho kiểm toán độc lập.

• Dễ dàng tiếp cận các nguồn Vốn tín dụng Xanh (Green Credits) và Quỹ đầu tư tác động theo Quyết định 926/QĐ-TTg.

 

  1. MÔ HÌNH HỢP TÁC VÀ NĂNG LỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT BIOCHAR

Để hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí đầu tư ban đầu, Các công ty sản xuất biochar triển khai các mô hình hợp tác thương mại linh hoạt:

4.1. Mô hình BOT / BOO Năng lượng Xanh (Build – Own – Operate)

Công ty sản xuất biochar trực tiếp đầu tư, lắp đặt và vận hành hệ thống lò nhiệt phân ngay tại nhà máy của khách hàng. Khách hàng chỉ cần cung cấp nguồn phế phụ phẩm và cam kết mua lại nguồn nhiệt/năng lượng sạch với mức giá ưu đãi hơn từ 15 – 25% so với chi phí năng lượng truyền thống.

4.2. Dịch vụ Tư vấn và Thương mại hóa Tín chỉ Carbon (CORC)

Công ty sản xuất biochar không chỉ cung cấp máy móc mà còn đảm nhận toàn bộ quy trình đo lường, đăng ký chứng nhận loại bỏ carbon (Biochar Carbon Removal – CORC) trên các sàn giao dịch quốc tế như Puro.earth. Lợi nhuận từ việc bán tín chỉ carbon sẽ được chia sẻ trực tiếp với doanh nghiệp đối tác, tạo ra dòng tiền thuần tăng thêm cho doanh nghiệp.

Cam kết giá trị từ công ty sản xuất biochar :

“Chúng tôi không chỉ bán thiết bị, chúng tôi cung cấp giải pháp toàn diện giúp doanh nghiệp biến chi phí xử lý chất thải thành nguồn thu nhập từ năng lượng sạch và tín chỉ carbon, đưa ESG từ một định hướng lý thuyết trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trên thương trường.”

 

  1. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP

Giải pháp thương mại của các công ty sản xuất biochar trong việc đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam hiện thực hóa Nghị quyết 70/NQ-TW về an ninh năng lượng quốc gia và tiếp cận nguồn lực hỗ trợ từ Quyết định 926/QĐ-TTg (Chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030). Thông qua hệ sinh thái công nghệ Nhiệt phân sinh khối (Pyrolysis) sản xuất Năng lượng sinh học tự dùng và Than sinh học (Biochar), các công ty sản xuất biochar cung cấp mô hình dịch vụ trọn gói giúp doanh nghiệp vừa bảo đảm tự chủ năng lượng sản xuất, vừa gia tăng xếp hạng ESG, thu đổi tín chỉ carbon và bứt phá năng lực cạnh tranh quốc tế.

Việc kết hợp giữa mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng theo Nghị quyết 70/NQ-TW và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh ESG theo Quyết định 926/QĐ-TTg không còn là lựa chọn mang tính hình thức, mà là bài toán sinh tồn của doanh nghiệp trong giai đoạn 2026 – 2030.

Công nghệ Than sinh học và Năng lượng sinh học của các công ty sản xuất biochar chính là chìa khóa vàng giúp các doanh nghiệp Việt Nam chủ động nguồn năng lượng, xanh hóa quy trình sản xuất, tối ưu hóa điểm số ESG và bứt phá vươn ra thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp chế biến nông sản, tập đoàn công nghiệp và hợp tác xã cần nhanh chóng nắm bắt các chính sách ưu đãi từ Chương trình 926/QĐ-TTg để hợp tác cùng công ty sản xuất biochar triển khai mô hình ngay trong năm nay.

Thực hiện: Thành Vinh, phó ban truyền thông VITAD-AGRI

THÔNG TIN LIÊN HỆ HỢP TÁC DỰ ÁN ESG & NĂNG LƯỢNG XANH:

Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI)

– Website: https://vitad-agri.vn

– Lĩnh vực: Tư vấn, chuyển giao, đào tạo khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nông nghiệp và đặc biệt là nông nghiệp hữu cơ và các lĩnh vực khác

Công ty Cổ phần Mekong Green Tech (MKGREEN)

– Website: https://mkgreen.vn/

– Lĩnh vực: Thiết bị Nhiệt phân Công nghiệp – Giải pháp Năng lượng Sinh học – Tín chỉ Carbon & Cải tạo đất Biochar.

Hợp tác Lúa gạo Việt Nam – Philippines: Hành trình Kết nối từ Cánh đồng Ninh Bình đến Thủ phủ Davao

NINH BÌNH – Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ đối tác nông nghiệp, ngày 14 tháng 5 năm 2026, phái đoàn cấp cao Philippines do ông Dony làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc quan trọng tại Công ty TNHH Cường Tân. Đây là một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh lúa lai, hiện đang đóng đóng vai trò hạt nhân kinh tế tại khu công nghiệp Trực Hùng, thuộc tỉnh Ninh Bình mới (được sáp nhập từ các tỉnh Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình cũ).

Toàn cảnh cuộc gặp mặt giữa phái đoàn Philippines và Công ty TNHH Cường Tân

Cuộc gặp gỡ không chỉ dừng lại ở việc tham quan cơ sở hạ tầng mà còn mở ra một chương mới trong quan hệ hợp tác lúa gạo giữa hai quốc gia, tập trung vào việc cung ứng giống chất lượng cao, chia sẻ kinh nghiệm canh tác và kiến tạo các chuỗi giá trị nông sản bền vững.

Cường Tân: 30 năm khẳng định vị thế “Hạt vàng Việt”

Đón tiếp phái đoàn tại trụ sở chính, ông Đoàn Văn Sáu – Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân – cùng ông Lâm Văn Chiểu – Phó Giám đốc công ty – đã bày tỏ niềm vinh dự khi được đón tiếp những người bạn từ Philippines. Trong không khí chân tình, ông Đoàn Văn Sáu đã điểm lại hành trình gần ba thập kỷ phát triển của doanh nghiệp.

Ông Đoàn Văn Sáu – Giám đốc  cùng ông Lâm Văn Chiểu – Phó Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân tiếp đoàn công tác Philippines

Được thành lập và bắt đầu tập trung vào lúa lai từ năm 1997 tại vùng đất Nam Định cũ, Cường Tân đã tạo nên những bước ngoặt lịch sử cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Dấu ấn đậm nét nhất chính là thương vụ mua lại bản quyền giống lúa lai hai dòng TH3-3 từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam vào năm 2008 với giá trị lên tới hơn 10 tỷ đồng – một con số kỷ lục vào thời điểm đó. Kể từ đó, Cường Tân liên tục đầu tư vào nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và xây dựng các vùng sản xuất giống quy mô lớn trên khắp cả nước, từ Nghệ An, Gia Lai đến Đắk Lắk.

Hiện nay, nhà máy của công ty tại Ninh Bình đạt năng suất ấn tượng với sản lượng hàng năm lên tới hơn 2.000 tấn lúa giống và hơn 3.000 tấn gạo thương phẩm chất lượng cao. Với hệ thống quản lý an toàn thực phẩm đạt chuẩn ISO 22000:2018, các sản phẩm của Cường Tân đã chinh phục được những thị trường khắt khe nhất thế giới.

Ông Đoàn Văn Sáu dẫn đoàn đi tham quan Nhà máy sản xuất lúa giống và gạo chất lượng cao

Vươn tầm quốc tế: Từ Cuba, Hoa Kỳ đến “trái tim” Châu Âu

Trong buổi làm việc, phái đoàn Philippines đặc biệt ấn tượng với năng lực xuất khẩu của Cường Tân. Không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo an ninh lương thực trong nước, công ty đã đưa “hạt giống hạnh phúc” của Việt Nam vươn ra toàn cầu.

  1. Dấu ấn tại Cuba: Giống lúa lai CT16 của Cường Tân đã gây “sốt” tại đảo quốc này khi đạt năng suất 7 – 8 tấn/ha, cao gấp đôi so với các giống lúa truyền thống tại địa phương. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho khả năng thích ứng của giống lúa Việt Nam với các điều kiện thổ nhưỡng khác nhau, mở ra cơ hội hợp tác lớn cho các quốc gia có điều kiện tương đồng như Philippines.
  2. Chinh phục thị trường Hoa Kỳ: Cường Tân là một trong số ít doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thành công hạt giống sang Mỹ, đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm dịch và chất lượng nghiêm ngặt của quốc gia này.
  3. Hương cốm Việt tại Châu Âu: Các dòng gạo chất lượng cao, đặc biệt là gạo Hương cốm, đã hiện diện tại các siêu thị lớn ở Đức, Ba Lan, Pháp. Nhờ tận dụng hiệu quả Hiệp định EVFTA, gạo Cường Tân đã khẳng định được vị thế hàng đầu về độ thơm ngon, mềm dẻo và an toàn thực phẩm tại thị trường EU.

Mô hình liên kết 5 sao: Sinh kế bền vững cho người nông dân

Tại cuộc họp, ông Đoàn Văn Sáu đã chia sẻ về triết lý kinh doanh cốt lõi của công ty: “Nông dân giàu thì doanh nghiệp mới mạnh”. Cường Tân vận hành theo mô hình bao tiêu khép kín, từ cung cấp giống, phân bón hữu cơ đến hướng dẫn quy trình sản xuất sạch cho nông hộ.

Điểm độc đáo của mô hình này là hình thức thu hoạch khoán và mua lại phần lúa dôi ra theo giá thị trường, giúp người nông dân vừa yên tâm về đầu ra, vừa có thêm động lực chăm sóc lúa để đạt năng suất cao nhất. Chính mô hình liên kết chặt chẽ này đã đảm bảo chất lượng lúa gạo đồng nhất, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe đồng thời cải thiện trực tiếp đời sống của hàng nghìn hộ nông dân tại Ninh Bình và các chi nhánh trên toàn quốc.

Tiềm năng hợp tác Việt Nam – Philippines: Hướng tới 2026 và xa hơn

Ông Dony, trưởng đoàn Philippines, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với mô hình vận hành của Cường Tân. Ông nhấn mạnh rằng Philippines hiện là đối tác nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, với kế hoạch nhập khẩu 3,6 triệu tấn gạo trong năm 2026. Tuy nhiên, mục tiêu của phái đoàn lần này không chỉ là giao thương hàng hóa mà còn là tìm kiếm các đối tác tin cậy để chuyển giao công nghệ lúa giống và kinh nghiệm cơ giới hóa nông nghiệp.

TS. Trần Đăng Khoa, Phó trưởng đoàn kiêm phiên dịch, thay mặt đoàn công tác gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo công ty: “Chúng tôi nhìn thấy ở Cường Tân không chỉ là một nhà sản xuất lúa gạo mà là một trung tâm tri thức nông nghiệp. Sự hợp tác toàn diện giữa hai bên sẽ giúp Philippines nâng cao năng lực tự chủ lương thực thông qua các bộ giống lúa lai năng suất cao.”

Hai bên đã thảo luận sâu về khả năng nhập khẩu các giống lúa như CT16 và Hương cốm sang Philippines, đồng thời tổ chức các chương trình trao đổi chuyên gia để học hỏi kinh nghiệm canh tác lúa của nhau. Ông Dony chia sẻ, ông cảm nhận được sự chân thành từ phía ông Sáu và coi đây là mối quan hệ giữa những “người bạn tốt” hơn là những đối tác kinh doanh thuần túy.

Ông Dony cảm nhận được sự chân thành từ phía ông Sáu và coi đây là mối quan hệ giữa những “người bạn tốt” hơn là những đối tác kinh doanh thuần túy

Lời mời đến Davao và Bữa cơm thấm tình hữu nghị

Cuối buổi làm việc, một sự kiện xúc động đã diễn ra khi ông Dony nồng nhiệt gửi lời mời tới Ban lãnh đạo Công ty TNHH Cường Tân sang thăm Philippines vào tháng 6 tới, nhân dịp chào mừng thành lập bang Davao – vùng đất được mệnh danh là “Thủ phủ dừa” nhưng cũng có tiềm năng nông nghiệp cực lớn của Philippines, đặc biệt là ngành lúa gạo. Ông Dony khẳng định phía Philippines sẽ đài thọ toàn bộ chi phí ăn ở và mong muốn được đón tiếp những người bạn Việt Nam tại quê hương mình.

Để đáp lại tình cảm đó, ông Đoàn Văn Sáu và ông Lâm Văn Chiểu đã mời phái đoàn dùng bữa cơm thân mật tại công ty. Điều đặc biệt, món chính của bữa cơm chính là gạo Hương cốm – loại gạo đặc sản do chính Cường Tân sản xuất và đang được xuất khẩu sang EU. Mùi hương lá dứa hòa quyện với hương cốm non tỏa ra từ bát cơm trắng ngần, dẻo thơm đã khiến các thành viên trong phái đoàn Philippines không ngớt lời khen ngợi.

Trước khi chia tay, lãnh đạo công ty đã tặng phái đoàn những món quà mang đậm bản sắc văn hóa và thương hiệu: Bộ tờ quảng cáo nhận diện thương hiệu chuyên nghiệp, những chiếc mũ tai bèo cỡ lớn gắn liền với hình ảnh người nông dân Việt Nam cần cù trong nắng gió và đặc biệt là túi gạo Hương cốm loại đặc biệt. Ông Đoàn Văn Sáu đã vui vẻ nhận lời mời và hứa sẽ sang thăm Davao vào tháng tới để hiện thực hóa các cam kết hợp tác.

Kết luận

Chuyến thăm của phái đoàn Philippines tới Công ty TNHH Cường Tân vào ngày 14/5/2026 đã khép lại với những nụ cười và những cái bắt tay siết chặt. Vượt lên trên những con số về sản lượng và kim ngạch, đây là minh chứng cho sức mạnh của sự tin cậy và tinh thần hợp tác cùng phát triển. Hạt gạo Cường Tân từ cánh đồng Ninh Bình, mang theo tâm huyết của người nông dân Việt Nam, đang sẵn sàng nảy mầm và tỏa hương trên đất nước Philippines, góp phần xây dựng một cộng đồng nông nghiệp Đông Nam Á bền vững và thịnh vượng.

Phút chia tay đầy quyến luyến 

Một số hình ảnh khác trong chuyến công tác:

         

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban Công nghệ

Hợp tác Nông nghiệp Việt Nam – Philippines: Kiến tạo Tương lai Xanh và Nâng tầm Chuỗi Giá trị Toàn cầu

HÀ NỘI – Ngày 13 tháng 5 năm 2026 đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác nông nghiệp giữa Việt Nam và Philippines. Tại trụ sở Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) – 24 Lý Thường Kiệt – Hoàn Kiếm – Hà Nội, cuộc hội thảo chiến lược và buổi làm việc cấp cao đã diễn ra giữa phái đoàn Philippines và các chuyên gia hàng đầu Việt Nam. Sự kiện không chỉ đơn thuần là buổi giao lưu kỹ thuật mà còn mở ra những triển vọng đầu tư quy mô lớn trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và thực phẩm hữu cơ.

 

Toàn cảnh cuộc họp bàn về hợp tác nông nghiệp giữa phái đoàn Davao – Philippines và VITAD-AGRI

  Khởi đầu cho một tầm nhìn chung về Nông nghiệp bền vững

Cuộc gặp gỡ được chủ trì bởi TS. Phạm Đình Nam, Viện trưởng VITAD-AGRI. Về phía Philippines, phái đoàn do ông Dony làm trưởng đoàn đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến các mô hình nông nghiệp thông minh mà Việt Nam đang triển khai thành công. Trong bối cảnh ngành nông nghiệp khu vực đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu và yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế, sự kết hợp giữa công nghệ ứng dụng của Việt Nam và tiềm năng nguồn lực của Philippines được kỳ vọng sẽ tạo nên một “cú hích” chiến lược.

Việt Nam hiện đã khẳng định vị thế là cường quốc nông sản khi kim ngạch xuất khẩu dừa chính thức vượt mốc 1,15 tỷ USD vào năm 2025, giữ vững vị trí thứ ba thế giới sau Philippines và Indonesia. Sự thăng tiến vượt bậc này là kết quả của việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ chế biến sâu – những kinh nghiệm quý báu mà các chuyên gia VITAD-AGRI sẵn sàng chia sẻ cùng đối tác Philippines.

Chuyển giao Công nghệ: Hạt nhân của sự hợp tác

Mở đầu buổi làm việc, TS. Trần Đăng Khoa – giảng viên Khoa Công nghệ nông nghiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội – đã trình bày bức tranh toàn cảnh về các công nghệ nông nghiệp tiềm năng. Theo TS. Khoa, Việt Nam đang sở hữu những giải pháp đột phá có thể áp dụng ngay cho các cây trồng chủ lực của Philippines như lúa gạo, dừa và cà phê.

TS. Trần Đăng Khoa phát biểu về tiềm năng hợp tác giữa Philippines và Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp

Riêng đối với ngành dừa, sự khác biệt về năng suất là điểm nhấn quan trọng. Trong khi năng suất trung bình tại Philippines đạt khoảng 3.719 trái/ha/năm, Việt Nam đã đạt mức ấn tượng 8.294 trái/ha/năm nhờ ứng dụng các giống dừa cải tiến và kỹ thuật thâm canh thông minh. Việc chuyển giao các công nghệ AI trong giám sát sức khỏe cây trồng và quy trình quản lý dịch hại đồng bộ (như đối phó với bọ cánh cứng và sâu đầu đen) sẽ giúp Philippines tối ưu hóa năng lực sản xuất của 340 triệu cây dừa hiện có.

Bên cạnh đó, các giải pháp cho ngành lúa gạo cũng được thảo luận sâu, đặc biệt trong bối cảnh Philippines dự kiến nhập khẩu từ 3,6 triệu tấn gạo vào năm 2026, trong đó khoảng 75-80% nguồn cung đến từ Việt Nam. Sự hợp tác công nghệ sẽ giúp hai bên không chỉ dừng lại ở giao thương thương mại mà còn tiến tới hợp tác sản xuất giống lúa chất lượng cao, chịu mặn và thích ứng biến đổi khí hậu.

Khẳng định thương hiệu và Tiêu chuẩn Hữu cơ quốc tế

Một phần không thể thiếu trong chuỗi giá trị nông sản là công tác chứng nhận và tiêu chuẩn hóa. Ông Nguyễn Ngọc Tùng, Phó Tổng giám đốc VINACAB, đã giới thiệu hồ sơ năng lực về dịch vụ chứng nhận và chiến lược “kiến tạo giá trị, khẳng định thương hiệu”. Ông Tùng nhấn mạnh rằng, để nông sản Philippines thâm nhập sâu vào các thị trường khó tính như Mỹ hay EU, việc đạt được các chứng chỉ như BRCGS, IFS hay các mã số vùng trồng (MSVT) là điều kiện bắt buộc.

Ông Nguyễn Ngọc Tùng giới thiệu về công tác chứng nhận và tiêu chuẩn hóa

Tiếp nối chủ đề này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Dinh từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trình bày chi tiết về các tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ. Hiện nay, Việt Nam đã phát triển được hơn 24.000 ha dừa hữu cơ đạt chuẩn USDA (Mỹ) và EU Organic. Kinh nghiệm xây dựng các chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để sản xuất sạch là giải pháp tối ưu mà Philippines có thể áp dụng để nâng cao giá trị cho 3,6 triệu ha đất trồng dừa của mình. Tiềm năng hợp tác trong ngành lúa gạo cũng rất lớn.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Dinh trình bày chi tiết về các tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ

Các chuyên gia khác của VITAD-AGRI: TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, giảng viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam; ThS Nguyễn Xuân Thọ, chuyên gia nghiên cứu và thực nghiệm nông nghiệp Israel; ThS Hoàng Văn Niên, chuyên gia về nông nghiệp hữu cơ; ThS Lê Ngọc Thành Vinh, chuyên gia về số hóa nông nghiệp cũng phát biểu những nội dung liên quan đến tiềm năng tác về khoa học công nghệ giứa hai quốc gia Philippines trong tình hình mới.

Dự án đáng chú ý: Viên nén sinh khối và Hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn

Một điểm nhấn thu hút sự quan tâm của phái đoàn Philippines là dự án đầu tư của Công ty Cổ phần Evergy Phú Yên (thuộc Tập đoàn Evergy Asia), do TS. Phạm Đình Nam trực tiếp giới thiệu. Đây là mô hình kinh tế tuần hoàn điển hình đặt tại Quốc lộ 29, xã Đức Bình, tỉnh Đắk Lắk.

TS. Phạm Đình Nam giới thiệu Viên nén sinh khối của Evergy Phú Yên

Thông số kỹ thuật của Dự án Evergy Đắk Lắk:

Hạng mục

Chi tiết

Công suất nhà máy

300.000 tấn viên nén nhiệt sinh khối/năm

Vùng nguyên liệu

3.200 ha trồng cỏ voi Napier (giống năng suất cao)

Mô hình tổ chức

05 Hợp tác xã nông nghiệp liên kết

Quy mô hộ dân

Khoảng 500 hộ gia đình tham gia canh tác

Sản phẩm phụ trợ

Cung ứng phân bón hữu cơ chất lượng cao

Dự án này không chỉ giải quyết bài toán năng lượng xanh mà còn mang lại giá trị gia tăng khổng lồ thông qua việc sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm. Trong bối cảnh Philippines đang nỗ lực trồng mới 50 triệu cây dừa vào năm 2026 và thực hiện chương trình bón phân cho 340 triệu cây hiện có, cũng như phát triển mở rộng diện tích trồng lúa, nguồn phân bón hữu cơ từ dự án này chính là mắt xích hợp tác hoàn hảo. TS. Phạm Đình Nam khẳng định, Evergy không chỉ bán sản phẩm mà sẵn sàng cùng đối tác xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, từ năng lượng đến dinh dưỡng cây trồng.

Lời mời từ Davao và Tầm nhìn tương lai

Đáp lại sự đón tiếp nồng hậu, ông Dony – Trưởng đoàn Philippines – đã bày tỏ sự cảm kích và đánh giá cao những công nghệ mà phía Việt Nam trình bày. Ông khẳng định: “Philippines không chỉ xem Việt Nam là một đối tác thương mại hàng đầu mà còn là một đồng minh công nghệ nông nghiệp chiến lược.”

Ông Dony – Trưởng đoàn Philippines  bày tỏ sự cảm kích và đánh giá cao sự hợp tác giữa hai bên

Để hiện thực hóa các cam kết, ông Dony đã trân trọng mời Viện trưởng VITAD-AGRI cùng các chuyên gia của Viện sang thăm và làm việc tại Philippines trong thời gian tới. Đặc biệt, một lời mời trang trọng đã được gửi tới lãnh đạo Công ty Cổ phần Evergy để tham dự lễ chào mừng thành lập bang Davao vào tháng 6 sắp tới. Đây sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp khảo sát thị trường và ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác thực địa.

Kết luận

Cuộc làm việc ngày 13/5/2026 không chỉ là một sự kiện ngoại giao mà là sự hội tụ của tri thức, công nghệ và khát vọng vươn tầm của nông nghiệp Đông Nam Á. Với sự hỗ trợ kỹ thuật từ VITAD-AGRI, sự cam kết về chất lượng từ VINACAB và những dự án mang tính đột phá như Evergy, quan hệ hợp tác Việt Nam – Philippines đang đứng trước một chương mới. Sự kết hợp giữa năng lực chế biến sâu của Việt Nam và tài nguyên dồi dào của Philippines sẽ tạo nên một sức mạnh cộng hưởng, đưa nông sản khu vực tiến xa hơn trên bản đồ giá trị toàn cầu.

Hành trình từ Hà Nội đến Davao không chỉ là khoảng cách địa lý, mà là con đường chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kiến tạo những giá trị bền vững cho thế hệ tương lai.

Chụp ảnh lưu niệm cuối cuộc họp

Một số hình ảnh khác:

                

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban Công nghệ

QUYẾT ĐỊNH 885/QĐ-TTg VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH TẠI VIỆT NAM

Quyết định 885/QĐ-TTg (2020) phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, đặt mục tiêu mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển chuỗi giá trị bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Quyết định, đồng thời phân tích vai trò và những yêu cầu đối với hợp tác xã (HTX) trong lĩnh vực sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học – yếu tố then chốt của hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ.

 

  1. Giới thiệu

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch sang hướng bền vững, Quyết định 885/QĐ-TTg đóng vai trò chiến lược trong việc định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Không chỉ tập trung vào sản xuất nông sản, Quyết định còn nhấn mạnh đến hệ sinh thái đầu vào, đặc biệt là phân bón hữu cơ và chế phẩm sinh học, tạo cơ hội lớn cho các HTX tham gia chuỗi giá trị.

 

  1. Nội dung chính của Quyết định 885/QĐ-TTg

2.1. Mục tiêu tổng quát

– Phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại, bền vững, thân thiện môi trường;

– Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp;

– Tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

2.2. Các chỉ tiêu cụ thể

Chỉ tiêu

Đến năm 2025

Đến năm 2030

Diện tích đất nông nghiệp hữu cơ

1,5 – 2%

2,5 – 3%

Sản phẩm chăn nuôi hữu cơ

1 – 2%

2 – 3%

Sản phẩm thủy sản hữu cơ

0,5 – 1,5%

1,5 – 3%

Giá trị sản phẩm/ha

Tăng 1,3-1,5 lần

Tăng 1,5-1,8 lần

2.3. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách

– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về nông nghiệp hữu cơ;

– Đồng bộ hóa với tiêu chuẩn quốc tế (EU, USDA…).

(2) Phát triển đầu vào cho sản xuất hữu cơ

– Khuyến khích sản xuất:

+ Phân bón hữu cơ, phân vi sinh,

+ Chế phẩm sinh học,

+ Thuốc BVTV sinh học.

Đây là điểm then chốt liên quan trực tiếp đến HTX sản xuất đầu vào.

(3) Tổ chức sản xuất theo chuỗi

  • Xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ tập trung;
  • Liên kết HTX – doanh nghiệp – nông dân – nhà khoa học;
  • Phát triển chuỗi giá trị từ sản xuất → chế biến → tiêu thụ.

(4) Khoa học công nghệ và chuyển giao

– Ứng dụng:

+ Công nghệ sinh học,

+ Công nghệ vi sinh,

+ Công nghệ số trong quản lý sản xuất hữu cơ.

(5) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

– Tăng cường đào tạo kỹ thuật sản xuất hữu cơ;

– Nâng cao năng lực cho HTX, doanh nghiệp.

(6) Xúc tiến thương mại và thị trường

– Hỗ trợ xây dựng thương hiệu;

– Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;

– Truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sản phẩm.

2.4. Chính sách hỗ trợ

– Hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;

– Hỗ trợ đào tạo, tập huấn;

– Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;

– Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại;

– Huy động nguồn lực từ ngân sách + xã hội hóa.

 

  1. Vai trò của HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học

HTX không chỉ là đơn vị sản xuất mà còn là:

– Nhà cung cấp đầu vào chiến lược cho nông nghiệp hữu cơ;

– Trung tâm chuyển giao công nghệ vi sinh;

– Cầu nối giữa nghiên cứu – sản xuất – thị trường.

Các sản phẩm chính:

– Phân hữu cơ truyền thống (compost);

– Phân hữu cơ vi sinh (có chủng vi sinh vật hữu ích);

– Chế phẩm sinh học (EM, Trichoderma, Bacillus, enzyme…).

 

  1. Lưu ý quan trọng cho HTX sản xuất phân bón và chế phẩm sinh học

4.1. Tuân thủ pháp lý

– Sản phẩm phải:

+ Được công bố hợp quy / đăng ký lưu hành;

+ Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;

– Không chứa:

+ Kim loại nặng vượt ngưỡng;

+ Vi sinh vật gây hại;

+ Thành phần hóa học bị cấm trong hữu cơ.

 4.2. Kiểm soát chất lượng vi sinh

– Chủng vi sinh phải:

+ Rõ nguồn gốc;

+ Có mật độ (CFU) đạt tiêu chuẩn;

– Đảm bảo:

+ Khả năng sống,

+ Hiệu quả thực tế ngoài đồng ruộng.

4.3. Chuẩn hóa quy trình sản xuất

– Xây dựng quy trình:

+ Lên men (hiếu khí/kỵ khí),

+ Ủ compost,

+ Nhân sinh khối vi sinh;

– Áp dụng tiêu chuẩn:

+ ISO

+ HACCP hoặc tương đương.

4.4. Liên kết chuỗi giá trị

– HTX cần liên kết với:

+ HTX trồng trọt hữu cơ (đầu ra sử dụng sản phẩm);

+ Doanh nghiệp phân phối;

+ Viện nghiên cứu (cải tiến công nghệ).

4.5. Định hướng thị trường

– Sản phẩm cần:

+ Phù hợp tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế;

+ Có hồ sơ kỹ thuật rõ ràng;

– đến:

+ Xuất khẩu;

+ Cung cấp cho các vùng nông nghiệp công nghệ cao.

4.6. Đổi mới công nghệ

– Ứng dụng:

+ Công nghệ nano sinh học;

+ Công nghệ enzyme;

+ Công nghệ lên men thế hệ mới;

– Tích hợp mô hình:

+ Zero Waste – tuần hoàn sinh học không phát thải.

 

  1. Thảo luận

Quyết định 885/QĐ-TTg mở ra cơ hội lớn cho HTX, nhưng cũng đặt ra thách thức:

– Yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng;

– Cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu;

– Đòi hỏi đầu tư công nghệ và quản lý.

Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt:

– HTX có thể trở thành nhà cung cấp đầu vào chiến lược,

– Góp phần định hình hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

 

  1. Kết luận

Quyết định 885/QĐ-TTg không chỉ là định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ mà còn là cơ hội chiến lược cho các HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học.

Việc tuân thủ tiêu chuẩn, đầu tư công nghệ và liên kết chuỗi giá trị sẽ giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban công nghệ 

TỔNG QUAN NGHỊ ĐỊNH 109/2018/NĐ-CP VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC

Tóm tắt (Abstract)

Nghị định 109/2018/NĐ-CP là khung pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động sản xuất, chứng nhận và thương mại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Nghị định đặt ra các nguyên tắc nghiêm ngặt về canh tác, kiểm soát đầu vào, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận, đồng thời đưa ra các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Nghị định và phân tích các yêu cầu, cơ hội cũng như lưu ý thực tiễn đối với hợp tác xã nông nghiệp trong việc ứng dụng chế phẩm sinh học.

 

  1. Giới thiệu

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và nhu cầu tiêu dùng an toàn gia tăng. Tại Việt Nam, Nghị định 109/2018/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầu tiên quy định toàn diện về lĩnh vực này, từ sản xuất đến tiêu thụ.

Đối với các HTX nông nghiệp, đặc biệt là các mô hình canh tác công nghệ cao và tuần hoàn sinh học, việc hiểu và tuân thủ Nghị định là điều kiện tiên quyết để tham gia thị trường hữu cơ trong nước và quốc tế.

 

  1. Nội dung chính của Nghị định 109/2018/NĐ-CP

2.1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định quy định về:

  • Sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ;
  • Chứng nhận, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc;
  • Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Áp dụng cho các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và sản phẩm chế biến hữu cơ.

2.2. Nguyên tắc sản xuất hữu cơ

Các nguyên tắc cốt lõi bao gồm:

  • Không sử dụng hóa chất tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, phân bón vô cơ, chất kích thích sinh trưởng;
  • Không sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO);
  • Bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất;
  • Áp dụng phương pháp canh tác tuần hoàn, sinh học và bền vững.

2.3. Yêu cầu về đầu vào

  • Chỉ sử dụng vật tư đầu vào được phép trong sản xuất hữu cơ, bao gồm:
    • Phân bón hữu cơ, phân vi sinh;
    • Chế phẩm sinh học, vi sinh vật có lợi;
    • Thuốc bảo vệ thực vật sinh học (có nguồn gốc tự nhiên).
  • Nguồn gốc, thành phần và quy trình sản xuất của các vật tư phải được kiểm soát và công bố rõ ràng.

2.4. Chứng nhận và ghi nhãn

  • Sản phẩm hữu cơ phải được tổ chức chứng nhận được chỉ định đánh giá và cấp chứng nhận.
  • Có thể áp dụng:
    • Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)
    • Hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương (EU Organic, USDA Organic…)
  • Sản phẩm đạt chuẩn được phép gắn logo “Hữu cơ Việt Nam”.
  • Bắt buộc có hệ thống truy xuất nguồn gốc.

2.5. Hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS)

Đối với HTX hoặc nhóm nông dân:

  • Phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal Control System – ICS);
  • Theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất của từng thành viên;
  • Ghi chép nhật ký sản xuất đầy đủ và minh bạch.

2.6. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước

Nghị định quy định nhiều cơ chế hỗ trợ:

  • 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;
  • 100% chi phí khảo sát đất, nước, môi trường;
  • Hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật;
  • Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;
  • Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại.

 

  1. Vai trò của chế phẩm sinh học trong nông nghiệp hữu cơ

Chế phẩm sinh học là yếu tố trung tâm thay thế cho hóa chất trong hệ thống hữu cơ. Bao gồm:

  • Vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân;
  • Nấm đối kháng, vi khuẩn kiểm soát dịch bệnh;
  • Enzyme sinh học, chế phẩm lên men;
  • Chế phẩm cải tạo đất, xử lý môi trường.

Vai trò:

  • Cải thiện độ phì đất;
  • Tăng sức đề kháng cây trồng;
  • Giảm chi phí đầu vào dài hạn;
  • Phù hợp với mô hình Zero Waste – tuần hoàn sinh học.

 

  1. Lưu ý quan trọng đối với Hợp tác xã khi sử dụng chế phẩm sinh học

4.1. Về pháp lý

  • Chế phẩm sinh học phải:
    • nguồn gốc rõ ràng,
    • Được phép lưu hành tại Việt Nam (công bố hợp quy hoặc đăng ký).
  • Không sử dụng chế phẩm có thành phần bị cấm trong sản xuất hữu cơ.

4.2. Về kỹ thuật

  • Phải sử dụng đúng:
    • Chủng vi sinh,
    • Nồng độ,
    • Quy trình ứng dụng (đất, lá, nước).
  • Không trộn lẫn tùy tiện với hóa chất (sẽ làm mất tác dụng vi sinh).

4.3. Về quản lý nội bộ (ICS)

  • HTX cần:
    • Lập quy trình chuẩn (SOP) cho từng loại chế phẩm;
    • Ghi chép nhật ký sử dụng chi tiết;
    • Kiểm tra định kỳ từng hộ thành viên.

4.4. Về kinh tế

  • Chế phẩm sinh học thường:
    • Chi phí ban đầu cao hơn,
    • Nhưng hiệu quả dài hạn tốt hơn (giảm chi phí thuốc BVTV, cải tạo đất).
  • Cần xây dựng mô hình trình diễn để thuyết phục nông dân.

4.5. Về liên kết thị trường

  • Chỉ khi có chứng nhận hữu cơ:
    • Sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao;
    • Mới tiếp cận được thị trường xuất khẩu.
  • HTX cần liên kết với:
    • Doanh nghiệp tiêu thụ,
    • Đơn vị chứng nhận,
    • Nhà cung cấp chế phẩm uy tín.

 

  1. Thảo luận

Nghị định 109/2018/NĐ-CP tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ nhưng cũng rất chặt chẽ.
Thách thức lớn nhất đối với HTX là:

  • Chi phí chứng nhận,
  • Năng lực quản lý nội bộ,
  • Nhận thức của nông dân.

Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Nhà nước và xu hướng tiêu dùng xanh, đây là cơ hội lớn để:

  • Chuyển đổi mô hình sản xuất,
  • Tăng giá trị sản phẩm,
  • Hướng tới xuất khẩu.

 

  1. Kết luận

Nghị định 109/2018/NĐ-CP là nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Đối với HTX nông nghiệp, việc tuân thủ các quy định về đầu vào, chứng nhận và hệ thống kiểm soát nội bộ là điều kiện bắt buộc.

Việc ứng dụng chế phẩm sinh học không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chiến lược phát triển bền vững, giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.

Link tài liệu: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2018/08/109-2018-nd-cp.signed.pdf

Thực hiện: Thành Vinh

Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam

Copyrights © 2019 VITAD-AGRI All Rights Reserved.

X