Hội nghị gặp gỡ, chia sẻ thông tin về khoa học công nghệ, sản phẩm phục vụ phát triển ngành nông nghiệp giữa các doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam (p2)
Tại phần hai Hội nghị này, nhiều công ty công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến của Hàn Quốc và Việt Nam đã ký kết với nhau những hợp đồng thương mại quan trọng.

Toàn cảnh phần hai “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025”
Ngày 27/11, Cơ quan Xúc tiến Công nghệ nông nghiệp Hàn Quốc (KOAT) tiếp tục tổ chức phần hai “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025” tại khách sạn Grand Plaza, số 117 Trần Duy Hưng, Hà Nội. Tại đây 12 công ty công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến của Hàn Quốc đã trình bày vắn tắt các công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến, bao gồm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương Việt Nam. Từ đây, một số công ty đã nhận được các đơn đặt hàng từ phía Việt Nam cũng như một số thỏa thuận hợp tác về chuyển giao công nghệ và thương mại với đối tác Việt Nam.
Dưới đây là một số hình ảnh của phần hai “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025” tại khách sạn Grand Plaza.




Thực hiện: Thành Vinh
CHẾ PHẨM SINH HỌC SUNGWON – VFARM, GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO CÂY TRỒNG VẬT NUÔI VÀ MÔI TRƯỜNG
Sáng 6/12/2025, Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và đã phối hợp cùng Công ty SungWon Hàn Quốc tổ chức Hội thảo khoa học về công nghệ sinh học và ra mắt chế phẩm sinh học Sungwon ở xã Liên Minh, thành phố Hà Nội.

Toàn cảnh Hội thảo thảo khoa học về công nghệ sinh học và ra mắt chế phẩm sinh học Sungwon (Hàn Quốc)
Các đại biểu tham dự:
- Đại diện cấp trung ương là ông Đặng Văn Cường, Cục chất lượng, chế biến và Phát triển thị trường – Bộ Nông nghiệp và Môi Trường;
- Đại diện thành phố Hà Nội là ông Trần Sỹ Tiến, Phó chi cục trưởng chi cục trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú ý và thủy sản;
- Đại diện chính quyền địa phương là ông Nguyễn Quý Mạnh, chủ tịch xã Liên Minh;
- Đại diện cho Công ty SungWon Hàn Quốc là Ông Kwon Yu, Tổng giám đốc.
- Đại điện cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là ông Hy Thành Trung Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc và Bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập.
- Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh hóa và môi trường của các Viện thuộc chuyên ngành nông nghiệp, các trường Đại học Thủy Lợi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật và Thủy sản Từ Sơn – Bắc Ninh….
- Cùng các khách hàng rải khắp 3 miền Nam, Trung, Bắc cũng về tham dự Hội thảo.
Hội thảo là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong hợp tác nghiên cứu, sản xuất và phát triển lĩnh vực công nghệ sinh học giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao trong nước (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ngoài (SungWon Hàn Quốc).

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Giảng viên cao cấp của Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc và điều hành Hội thảo
Phát biểu khai mạc Hội Thảo. Tiến sĩ Hạnh cho biết, hiện nay công nghệ sinh học, trong đó đặc biệt là nghiên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh đang rất được quan tâm, vì đây là nguồn cung cấp dinh dưỡng, chăm sóc, bảo vệ cây trồng, thân thiện với môi trường, bên cạnh phân hữu cơ. Ngoài ra các chế phẩm sinh học còn có khả năng cải tạo, giải độc đất; giải độc khí, làm sạch hồ ao, sông suối; phân hủy rác thải; cải thiện hệ sinh vật đất, thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, làm đệm lót sinh học hay xử lý môi trường, khử mùi hôi… Như vậy ứng dụng chế phẩm vi sinh rất phong phú, đa dạng, không chỉ hữu ích cho bà con nông dân mà còn giúp cải thiện môi trường sống, đặc biệt là giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí.

Một số chế phẩm sinh học được trưng bày tại Hội thảo
Phát biểu chào mừng Hội thảo, đại diện của cho Công ty SungWon Hàn Quốc là ông Kwon Yu, Tổng giám đốc cho biết, trong những năm qua, mối quan hệ hợp tác giữa Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và đã phối hợp cùng Công ty SungWon Hàn Quốc đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Từ những cuộc trao đổi học thuật, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đến các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hai bên đã cùng nhau xây dựng nền tảng cho hệ sinh thái tuyệt vời dựa trên lợi thế bản địa, nguồn dược liệu quý hiếm, đa dạng sinh học phong phú và tinh thần phát triển công nghệ xanh.

Ông Kwon Yu, Tổng giám đốc Công ty SungWon Hàn Quốc đánh giá cao sự hợp tác thân thiện của Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM
Cũng trong Hội thảo này, ông Choi Jin Young – Giám đốc truyền thông Công ty SungWon Hàn Quốc đã giới thiệu về chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc và khả năng ứng dụng trong phát triển nông nghiệp xanh và xử lý môi trường ở Việt Nam; cơ sở pháp lý và công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc; một số kết quả ban đầu khi sử dụng Chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc trong việc xử lý môi trường tại xã Liên Minh, thành phố Hà Nội. Ông nhấn mạnh: Hội thảo lần này tiếp tục là cầu nối thúc đẩy chương trình nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học tiên tiến, hỗ trợ ươm tạo cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM nuôi trồng và thương mại hoá các giải pháp công nghệ sinh học hiện đại, góp phần nâng cao vị thế của Hợp tác xã nói riêng, xã Liên Minh – thành phố Hà Nội nói chung trên bản đồ khoa học công nghệ của Việt Nam và thế giới. Hai nước Việt Nam và Hàn Quốc chúng ta có những đặc điểm tương đồng về địa lý, khí hậu, môi trường và thậm chí cả nền văn hóa, do vậy sự hợp tác giữa SungWon và VFARM ắt hẳn tạo nên “hoa thơm trái ngọt” và thực tế những năm qua đã diễn ra tốt đẹp như vậy.

Ông Choi Jin Young – Giám đốc truyền thông Công ty SungWon Hàn Quốc công bố ra mắt chính thức chế phẩm vi sinh Sungwon DX – Hàn Quốc tại Việt Nam
Sau lời công bố ra mắt chính thức chế phẩm sinh học, SungWon và VFARM đã chính thức ký kết hợp đồng hợp tác toàn diện sản xuất và ứng dụng sản phẩm này cho Hợp tác xã, cho toàn xã Liên Minh và tiến tới mở rộng phạm vi thành phố Hà Nội, trong nước và xuất khẩu.

Ông Kwon Yu, Tổng giám đốc Công ty SungWon Hàn Quốc và ông Hy Thành Trung – Chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM ký kết hợp đồng hợp tác toàn diện
Cũng tại Hội thảo này, ông Hy Thành Trung đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM đã ký kết hợp đồng đại lý với bà Phan Thị Đoan Trang. Những đại lý như của bà Trang sẽ là cánh tay nối dài cho VFARM trong hành trình chinh phục thị trường chế phẩm sinh học trong nước.

Ông Hy Thành Trung và bà Phan Thị Đoan Trang ký kết hợp đồng đại lý
Tại Hội thảo, năm tham luận đã được trình bày, đó là những kinh nghiệm đúc rút từ trải nghiệm thực tiễn, những kiến thức chứa đựng hàm lượng khoa học cao. Cụ thể, các tham luận của lãnh đạo xã Liên Minh và các hộ nông dân ở đây đã khẳng định hiệu quả của chế phẩm sinh học trong nuôi trồng cây ăn quả, các loại rau và nhất là sự cải thiện môi trường rõ rệt, trong đó đặc biệt đánh giá cao hiệu quả xử lý mùi kênh sông Hát bằng chế phẩm vi sinh SungWon DX, bày tỏ nguyện vọng được sử dụng sản phẩm này thường xuyên. Sau đó là phần trình bày của PGS.TS. Đặng Thị Thanh Lê – giảng viên bộ môn kỹ thuật hóa học – Đại Học Thủy Lợi về ý nghĩa của việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa hóa và môi trường; ông Trương Quang Anh – Phó giám đốc Trung tâm khảo kiểm nghiệm phân bón quốc gia chia sẻ về chế phẩm vi sinh và ông Hy Thành Trung trình bày quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh SungWon của Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM.
Kế tiếp là phần hỏi đáp diễn ra sôi nổi với những câu hỏi thú vị liên quan đến bao bì sản phẩm, cách vận chuyển chế phẩm sinh học lên vùng cao và những lợi thế của sự hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước Hàn Quốc – Việt Nam để tối ưu hóa chất lượng sản phẩm và tạo nên một giá thành hợp lý. Những vấn đề pháp lý và quy định của Việt Nam khi sử dụng Chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc cũng được thảo luận tại đây. Những câu hỏi – đáp giữa các nhà khoa học Việt Nam, các chuyên gia Hàn Quốc và những người quan tâm đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về giá trị cốt lõi của chế phẩm sinh học, tính ứng dụng của sản phẩm này lên thực vật, cây dược liệu, đất đai, môi trường… đã tạo nên không khí sinh hoạt học thuật thật sự.
Các chuyên gia Hàn Quốc và các nhà khoa học Việt Nam trả lời câu hỏi của người quan tâm đến chế phẩm sinh học
Nhân dịp này, những người tham gia Hội thảo cũng có dịp tham quan, khảo sát các vườn cây ăn quả tuyệt vời tại đây – nơi mà ứng dụng chế phẩm sinh học đạt hiệu quả rõ nét, chân thật nhất.
Hội thảo mở ra một bước tiến mới cho hợp tác khoa học không chỉ giữa SungWon và VFARM mà còn là tiền đề cho các đơn vị sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tạo nhiều cơ hội kết nối trong nghiên cứu, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ sinh thái kinh tế sinh học quốc tế gắn với thành phố Hà Nội. Đồng thời phát huy nguồn tài nguyên thực vật và các loài cây dược liệu, chẳng hạn sâm bố chính, hồng sâm Hàn Quốc, từng bước khẳng định vị thế ngành công nghệ sinh học như một trụ cột thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, bền vững cho Thủ đô nước ta.
Dưới đây là một số hình ảnh khác của Hội thảo.













Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)
Hội nghị gặp gỡ, chia sẻ thông tin về khoa học công nghệ, sản phẩm phục vụ phát triển ngành nông nghiệp giữa các doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam (p1)
Tại Hội nghị này, nhiều công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến của Hàn Quốc và Việt Nam được chia sẻ nhằm thúc đẩy giao thương, kết nối Công nghệ nông nghiệp giữa hai nước.
Ngày 26/11, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) phối hợp với Cơ quan Xúc tiến Công nghệ nông nghiệp Hàn Quốc (KOAT) tổ chức “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025”.
Toàn cảnh Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghệ nông nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc VAAS nhấn mạnh, Hàn Quốc là thị trường quan trọng của nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam như thủy sản, trái cây, các gia vị (tiêu, ớt), đồ uống (café, trà mát cha), lương thực (gạo, mỳ) và sản phẩm gỗ. Các sản phẩm nông nghiệp, vật tư, thiết bị canh tác và công nghệ tiên tiến của Hàn Quốc ngày càng được doanh nghiệp và nông dân Việt Nam quan tâm, ưa chuộng. Hai nước cũng đã triển khai nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu, phát triển giống, công nghệ sau thu hoạch, cơ giới hóa, nông nghiệp thông minh, công nghệ sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững của nông nghiệp Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Hồng Sơn cho biết: “Hội thảo này tập trung trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu của Việt Nam và các cơ quan, doanh nghiệp nông nghiệp Hàn Quốc; chia sẻ kết quả thử nghiệm thực tế tại Việt Nam đối với một số sản phẩm vật tư nông nghiệp của Hàn Quốc. Các công nghệ và sản phẩm nghiên cứu mới như: Chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh, vi sinh vật xử lý môi trường, phân bón hữu cơ – vi sinh, hệ thống tưới tự động và vật tư phục vụ nhà lưới, nhà kính sẽ được giới thiệu đến doanh nghiệp Việt. Bên cạnh đó, thông tin về điều kiện xuất – nhập khẩu công nghệ, vật tư và sản phẩm nông nghiệp giữa hai nước cũng sẽ được thảo luận chi tiết để thúc đẩy giao thương và mở rộng hợp tác giữa các bên”.

GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc VAAS khai mạc Hội thảo
Cũng tại Hội thảo, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật khẳng định, hội thảo là bước chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của nông nghiệp Việt Nam – nơi khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế trở thành động lực trung tâm. Ông nói: “Với sự tham gia tích cực của Bộ, các cơ quan, đơn vị, viện trường trực thuộc, cùng doanh nghiệp hai nước cộng đồng khoa học và nhà đầu tư, tôi tin rằng chúng ta sẽ xác định được các lĩnh vực ưu tiên kết nối công nghệ như giống cây trồng; vật tư nông nghiệp (phân bón hữu cơ – vi sinh, thuốc BVTV sinh học, chế phẩm xử lý); nông nghiệp thông minh; công nghệ sau thu hoạch, chế biến và bảo quản; và kinh tế tuần hoàn nông nghiệp. Đồng thời, mở ra các cơ hội giao thương mới cho các mặt hàng nông sản chủ lực và gợi mở những sáng kiến hợp tác dài hạn về đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu chung, xây dựng phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo liên kết Việt Nam – Hàn Quốc”.

Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phat biểu tại Hội thảo
Theo ông Ko Bok Nam, Giám đốc KOAT, từ năm 2020, VAAS và Viện Nông nghiệp Hàn Quốc (RDA) đã phối hợp xây dựng các nhà kính thí điểm theo mô hình Smart Farm. Từ nền tảng hợp tác này, RDA không chỉ tập trung vào công nghệ nông nghiệp thông minh mà còn triển khai Dự án Testbed tại Việt Nam nhằm kiểm chứng hiệu quả thiết bị nông nghiệp của Hàn Quốc. Dự án được thực hiện cùng Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam (FAVRI) và Viện Kiểm định Phân bón Quốc gia (NCFT), mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng hơn giữa hai nước trong lĩnh vực nông nghiệp.
Ông Ko Bok Nam kỳ vọng thông qua hội thảo lần này, hai bên sẽ chia sẻ những kết quả đã đạt được và cùng tìm ra các hướng hợp tác mới, hướng tới phát triển bền vững.

Ông Ko Bok Nam, Giám đốc KOAT hy vọng hai nước Hàn Quốc, Việt Nam sớm chia sẻ những thành quả hợp tác đã đạt được.
Tại hội thảo, 12 doanh nghiệp Hàn Quốc đã giới thiệu các công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến, bao gồm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương Việt Nam. Sự kiện cũng diễn ra lễ ký biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác giữa Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) với Bioplan Co., Ltd.; Công ty CP Thương mại Hải Ánh và Hyunnong Co., Ltd.

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và Bioplan Co., Ltd. kí biên bản ghi nhớ (MOU).
Phát biểu tổng kết Hội thảo, phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương đánh giá cao việc các đại biểu, chuyên gia và doanh nghiệp chia sẻ thẳng thắn, trao đổi cởi mở, tập trung vào những vấn đề thực tiễn, các công nghệ, mô hình, dự án có thể triển khai ngay hoặc trong tương lai gần và hy vọng thúc đẩy giao thương, kết nối Công nghệ nông nghiệp giữa hai nước Hàn Quốc và Việt sẽ được nâng lên tầm cao mới trong tương lai gần.
Một số hình ảnh khác của Hội thảo.

Thực hiện: Thành Vinh
Hội nghị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050”
8h30 sáng nay (22/10/2025), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050” và tham vấn cho dự thảo kế hoạch hành động triển khai đề án.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung chủ trì hội nghị. Cùng dự có lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ như Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Biến đổi khí hậu, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Khoa học và Công nghệ, cùng đại diện UBND, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố theo cả hình thức trực tiếp lẫn trực tuyến. TS Phạm Đình Nam, Viện trưởng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam cùng một số chuyên gia của Viện tham gia với hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom.
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh đề án được ban hành đúng thời điểm, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ngành trồng trọt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập sâu vào thị trường quốc tế. Mục tiêu trọng tâm của đề án là vừa đảm bảo tăng trưởng về năng suất và giá trị, vừa giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn.

Kế tiếp là phần công bố những mục tiêu cụ thể của Đề án, Ông Huỳnh Tấn Đạt – Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – khẳng định “Ngành trồng trọt đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ góp phần giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2020”. Tại địa phương, mỗi tỉnh, thành sẽ triển khai ít nhất 1-2 mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải có thể nhân rộng, thí điểm tối thiểu 15 mô hình canh tác đủ điều kiện phát triển tín chỉ carbon. Hệ thống dữ liệu phát thải sẽ được đồng bộ với Hệ thống đăng ký quốc gia. Ngành sẽ đào tạo tối thiểu 3.000 cán bộ kỹ thuật, khuyến nông, nông dân và doanh nghiệp; xây dựng ít nhất 5 bộ tài liệu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi sản xuất theo hướng phát thải thấp.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trình bày về Kế hoạch hành động thực hiện Đề án
Tiếp nối chương trình, Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trình bày về Kế hoạch hành động thực hiện Đề án. Bà Hương biết, Kế hoạch hành động gồm 7 nhóm nhiệm vụ chính: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện Đề án; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt, phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái; Phát triển và áp dụng các gói kỹ thuật sản xuất trồng trọt giảm phát thải; Triển khai mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải quy mô vùng và chuỗi giá trị; Thiết lập, vận hành hệ thống đo lường – báo cáo – thẩm định (MRV) và cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính; Nâng cao năng lực và chuyển đổi nhận thức; Kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp.

7 nhóm nhiệm vụ chính trong kế hoạch hành động của Đề án
Sau đó là phần tham luận của các lãnh đạo sở Nông nghiệp và Môi trường trên cả nước. Ông Nguyễn Mạnh Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội trình bày về hoạt động sản xuất nông nghiệp giảm phát thải của Thủ đô. Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng khẳng định tầm quan trọng của việc triển khai Đề án giảm phát thải trong trồng trọt, nhất là với các địa phương có thế mạnh như Lâm Đồng. Ông Lê Chí Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp, nhấn mạnh, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường chuẩn bị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050” là bước đi thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu Net zero vào năm 2050. Bà Đinh Thị Phương Khanh – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh đề xuất, để các địa phương sớm triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ được giao trong khuôn khổ Đề án, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần sớm xây dựng bộ tiêu chí chuyển đổi cây trồng.

Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại Hội nghị
Các đại biểu cũng nêu những góp ý cho đề án. Theo đó PGS.TS Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam cho rằng, đề án trồng trọt giảm phát thải và đề án nâng cao sức khỏe đất được ban hành tháng 10/2024 chính là “xương sống” của ngành trồng trọt trong giai đoạn mới. TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, đại diện Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam, cho rằng, để đạt được mục tiêu giảm 15% phát thải khí nhà kính đến năm 2050, cần lượng hóa rõ ràng các nhiệm vụ và mục tiêu của từng hợp phần trong Đề án. bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt đã góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam, tạo thuận lợi để các sản phẩm trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. PGS.TS Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, cho rằng đề án trồng trọt giảm phát thải đã đi đúng hướng phát triển được khuyến khích, đó là phát triển xanh, hữu cơ, bền vững và có định hướng thị trường rõ ràng. TS Lê Văn Tri, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón sinh học Việt Nam đề nghị xem xét bổ sung cây cao su trong nhóm cây trồng chuyển đổi hình thức canh tác…

Đề xuất mô hình triển khai Đề án tại các địa phương
TS Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch HĐQT Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai cho rằng, để quá trình chuyển đổi sang trồng trọt giảm phát thải đạt hiệu quả và bền vững, cần bổ sung 2 nhóm giải pháp lớn: Điều chỉnh cơ sở hạ tầng nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu mới của sản xuất xanh, đặc biệt là hệ thống thủy lợi cho cây lúa và lập kế hoạch huy động nguồn lực cho chuyển đổi trên phạm vi toàn quốc, bởi nếu chỉ trông chờ vào ngân sách thì khó có thể đi đường dài. Theo ông Phát, trong 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm của dự thảo kế hoạch hành động, chính sách vẫn là yếu tố then chốt. Cần thống nhất quan điểm coi nông dân và doanh nghiệp là hai chủ thể trung tâm, vừa là người thực hiện, vừa là người hưởng lợi. Khi thấy được lợi ích cụ thể và được hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, họ sẽ chủ động tham gia, đặc biệt trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật.

TS Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch HĐQT Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai phát biểu tại Hội nghị
Phát biểu tổng kết Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung khẳng định chủ trương triển khai Đề án: “Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ quy mô địa bàn thực hiện”. Theo đó, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – cơ quan chuyên môn chủ trì Đề án sẽ phải cập nhật chế độ báo cáo chỉ đạo định hướng vào NDC. Về cơ chế chính sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo Cục Biến đổi khí hậu, trước 2028 thí điểm trao đổi carbon nội địa, trên cơ sở đó tham gia trao đổi carbon quốc tế. Ông nói: “Cần phải bán được, khơi thông được thị trường cho người dân”.
Thứ trưởng cũng chỉ đạo, ngay sau hội nghị, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tiếp thu bổ sung hoàn chỉnh dự thảo Kế hoạch để thực sự khả thi, thực tế và có sự ưu tiên có chọn lọc trong từng giai đoạn thực hiện dự án. Cần phải bán được, khơi thông được thị trường cho sản phẩm trồng trọt giảm phát thải.
Ngoài ra, Cục sẽ có trách nhiệm làm việc cùng địa phương chọn lựa mô hình chuyển đổi cây trồng. Đặc biệt, Ban chỉ đạo sẽ chỉ đạo xuyên suốt kế hoạch, sơ kết, tổng kết, tháo gỡ vướng mắc trong các khâu thực hiện. Về nguồn lực, Bộ sẽ có cuộc họp thảo luận với sự tham gia cơ quan nhà nước, đối tác quốc tế có những dự án đã được phê duyệt và sắp phê duyệt và đặc biệt là nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, hiệp hội cùng chung tay đóng góp bền vững.
Tái khẳng định tham vọng của Đề án, Thứ trưởng Hoàng Trung chia sẻ: Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 không chỉ là một chương trình của Bộ, mà là một phong trào hành động quốc gia, là lời cam kết của nông nghiệp Việt Nam trước thế giới về trách nhiệm trước biến đổi khí hậu, về con đường phát triển xanh, bền vững.”
Một số hình ảnh của Hội nghị:



Thực hiện: Thành Vinh
Nông nghiệp tái sinh và hữu cơ: Tương lai của nông nghiệp toàn cầu
Nông nghiệp hữu cơ toàn cầu đang ở ngã rẽ quan trọng
Khai mạc hội nghị hữu cơ Châu Á
Bài học thế giới về phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững
Trong bài trình bày tại Hội nghị hữu cơ Châu Á lần thứ 8 diễn ra từ ngày 17 – 19/9 tại Ninh Bình, GS.TS André Leu – Giám đốc Quốc tế của Tổ chức Regeneration International (RI), nguyên Chủ tịch IFOAM quốc tế (Organics International), đồng thời là một nông dân canh tác nông nghiệp hữu cơ theo hướng tái sinh đã chia sẻ những quan điểm quan trọng về con đường phát triển nông nghiệp toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu và môi trường.
Từ khủng hoảng nông nghiệp công nghiệp đến sự hình thành phong trào tái sinh
Theo ông Leu, trước năm 2015, khái niệm “nông nghiệp tái sinh” hầu như ít được nhắc tới. Thế nhưng chỉ sau một thập kỷ, nó đã trở thành thuật ngữ phổ biến trên báo chí toàn cầu, gắn liền với những thảo luận về môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Năm 2015, các nhà lãnh đạo của nhiều phong trào hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tổng hợp, các phong trào môi trường, sức khỏe tự nhiên đã thành lập RI. Ban chỉ đạo sáng lập gồm TS Vandana Shiva, Ronnie Cummins, TS. Hans Herren, Steve Rye và GS.TS André Leu. Sau 10 năm, hiện RI đã mở rộng tới 680 đối tác ở 80 quốc gia, trở thành một mạng lưới hợp tác toàn cầu có sức ảnh hưởng lớn.

GS.TS André Leu, Giám đốc Quốc tế của Tổ chức Regeneration International, nguyên Chủ tịch IFOAM quốc tế (Organics International) cho rằng, việc chuyển đổi khỏi nông nghiệp công nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Ảnh: Hồng Thắm.
Ông Leu chỉ rõ, nông nghiệp công nghiệp là mối đe dọa hiện hữu đối với hành tinh do bản chất thoái hóa tự nhiên của nó. Đây là nguyên nhân của 80% tình trạng phá rừng và mất đa dạng sinh học, đồng thời là nguồn phát thải khí nhà kính lớn. Hệ thống chăn nuôi công nghiệp tiêu tốn tới 10 kg protein thực vật để sản xuất 1 kg protein động vật, vừa kém hiệu quả vừa tàn phá môi trường.
Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đã để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe con người và hệ sinh thái. Vì vậy theo ông, việc chuyển đổi khỏi nông nghiệp công nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ sức khỏe của con người và phúc lợi của tất cả loài khác trong hành tinh này.
Tiêu chuẩn tái sinh quốc tế và lộ trình chuyển đổi
Một trong những định hướng then chốt mà ông Leu nhắc tới là khái niệm “hữu cơ 3.0 – Organic 3.0”, coi nông nghiệp hữu cơ như một “ngọn hải đăng” dẫn dắt sự thay đổi, góp phần nâng cao tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp chính thống.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai hợp tác, ông và đồng sự cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là những mô hình sản xuất đã đạt được chứng nhận hữu cơ.
Nếu chọn các từ như “hữu cơ” hay “nông nghiệp sinh thái” sẽ có nhiều ý kiến của các bên liên quan tiềm năng, chẳng hạn như nông lâm kết hợp, canh tác tổng hợp, canh tác bền vững… Vì vậy, RI đã chọn thuật ngữ “tái sinh” (regenerative) – một khái niệm rõ ràng, trung lập, giúp tiếp cận nông dân và các bên liên quan một cách cởi mở. “Tái sinh” cũng là khái niệm có sức cộng hưởng sâu sắc với hầu hết mọi người.

Nông nghiệp tái sinh là phương pháp canh tác bền vững nhằm phục hồi và nâng cao chất lượng đất đai, độ phì nhiêu, đa dạng sinh học, nguồn nước và hệ sinh thái tổng thể. Ảnh: RI.
Hiện nay, nông nghiệp tái sinh đã được nông dân, các tổ chức nông dân, tập đoàn thực phẩm, dệt may và nhiều chính phủ trên thế giới ủng hộ. Đáng chú ý, phong trào này không khởi phát từ các tập đoàn hay học giả mà được thúc đẩy bởi chính nông dân – những người trực tiếp đối mặt với thách thức của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường.
Một điểm nhấn khác trong bài trình bày của ông Leu là Tiêu chuẩn tái sinh quốc tế của RI được công bố vào tháng 3/2025.
Tiêu chuẩn này được cung cấp độc quyền cho các tổ chức chứng nhận hữu cơ đã được đánh giá kỹ lưỡng vì họ có hệ thống hiệu quả nhất trong việc xác minh thực hành sản xuất và ngăn chặn gian lận.
Ông Leu cho hay, lý do đưa ra tiêu chuẩn mới là bởi bang California (Mỹ) từng ban hành định nghĩa về nông nghiệp tái sinh nhưng lại cho phép sử dụng hóa chất độc hại và sinh vật biến đổi gen – đi ngược với tinh thần “tái sinh”.
Theo tiêu chuẩn RI, người sản xuất nông nghiệp tái sinh có thể được chứng nhận ở hai cấp độ. Một là nông nghiệp tái sinh hạng A – đáp ứng tất cả yêu cầu. Hai là nông nghiệp tái sinh trong giai đoạn chuyển đổi – đang trong quá trình đáp ứng tất cả yêu cầu.
Không có thời hạn cụ thể nào cho các nhà thực hành tiêu chuẩn để tiến tới chứng nhận nông nghiệp tái sinh hạng A. Tuy nhiên, tất cả các nhà thực hành được chứng nhận nông nghiệp tái sinh trong giai đoạn chuyển đổi phải nêu rõ khung thời gian và phương pháp để loại bỏ các đầu vào và thực hành bị cấm. Điều này cần được xem xét lại hàng năm, tập trung vào việc cải tiến liên tục.
Ông Leu nhấn mạnh: “Chúng tôi khuyến khích nông dân thực hiện bước đi đầu tiên hướng tới sự thay đổi tích cực. Đây thường là khía cạnh khó khăn nhất trong bất kỳ quá trình chuyển đổi nào. Theo nghiên cứu của chúng tôi, một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều nông dân e ngại khi tham gia sản xuất hữu cơ có chứng nhận đó là yêu cầu về giai đoạn chuyển đổi kéo dài 3 năm”.
“Với tiêu chuẩn của chúng tôi, người sản xuất có thể dễ dàng đạt chứng nhận tái sinh trong giai đoạn chuyển đổi. Do đó, chúng tôi đã giúp nông dân bắt đầu hành trình trở thành tái sinh một cách đơn giản, với mục tiêu cuối cùng là đạt được chứng nhận tái sinh hạng A”, ông Leu nói thêm.
GS.TS André Leu hiện là Giám đốc Quốc tế của Tổ chức Regeneration International (RI) từ năm 2017. Trước đó, ông từng giữ chức Chủ tịch IFOAM quốc tế (Organics International) từ năm 2011 đến 2017 – một tổ chức đại diện toàn cầu duy nhất cho lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ. Ông là chuyên gia hàng đầu về hệ thống canh tác sinh thái dựa trên tự nhiên với hơn 50 năm kinh nghiệm làm nông nghiệp hữu cơ theo hướng tái sinh, tập trung vào nông sinh thái (agroecology).
CAO TRÀ MỤC NHAN – VĂN HÓA THƯỞNG TRÀ TUYỆT ĐỈNH
Khi tới nhiều nước vùng Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, bạn thường được mời thưởng thức những ly trà tuyệt đỉnh, những sản phẩm trà có hạn sử dụng lên tới hàng chục năm và họ tự hào về “văn hóa thưởng trà” của mình. Việt Nam có làm được điều đó không? Cao trà Mục Nhan phải chăng là một câu trả lời cho bạn.

Hội đồng khoa học “Đánh giá tư vấn và định hướng phát triển Cao trà Mục Nhan cho Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ”
Sản phẩm này được Hội đồng khoa học đánh giá, tư vấn và đề ra đinh hướng phát triển trong thời gian tới cho Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ vào ngày 6/9/2025 tại Phòng họp 102, số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hội đồng gồm các chuyên gia khoa học công nghệ: PGS.TS Trần Mạnh Trí – Chủ tịch Hội đồng, PGS.TS Đỗ Thị Việt Hương – Chuyên gia Hóa học, TS Phạm Đình Nam – Chuyên gia Kinh tế nông nghiệp, ThS Đào Văn Núi – Chuyên gia dược liệu, KS Phùng Văn Chung – Chuyên gia cấp chứng chỉ nông nghiệp; TS Nguyễn Hồng Hạnh, TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh đều là các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam hiện nay trên lĩnh vực khoa học công nghệ và nông nghiệp.
Tại đây, chị Lê Thị Hoa, Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ đã nêu mục đích và ý nghĩa của việc sản xuất Cao tra Mục Nhan. Theo đó giới thiệu đây là sản phẩm Cao trà đầu tiên tại Việt Nam và xác lập kỷ lục có hàm lượng polyphenol lên tới 45,1%, cao nhất trong các loại trà thương mại hiện nay trên thị trường trong nước. Để có được thành công này, chính chị Hoa đã sang Trung Quốc học hỏi công nghệ sản xuất các loại trà được xem là “tuyệt đỉnh” của đất nước này: Không chỉ là hương vị, không chỉ là khả năng lưu hương và tuổi thọ của sản phẩm, các loại trà này còn là dược liệu chữa bệnh, tạo cảm giác thư thái cho người sử dụng, sảng khoái nhưng không làm mất ngủ. Tóm lại, thưởng trà không chỉ là thú chơi mà còn là một nét văn hóa thanh lịch và có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên các sản phẩm này hầu như chỉ phục vụ cho tầng lớp có thu nhập cao vì giá thành rất đắt, lên tới hàng ngàn nhân dân tệ một ấm trà (tức là khoảng 5-10 triệu đồng) và tất nhiên, nguyên liệu để sản xuất ra những loại trà “tuyệt đỉnh” này không hề rẻ. Sau khoảng thời gian dài theo đuổi công nghệ sản xuất trà, chị Hoa đã phát hiện vùng núi phía Bắc nước ta có những gốc trà cổ hàng trăm tuổi có chất lượng tương đương hoặc tốt hơn của Trung Quốc với giá thành rẻ hơn hẳn. Chị đã áp dụng công nghệ mình học được và sản xuất thành công “Cao trà Mục Nhan”, từ đó mở rộng sang các loại trà độc đáo khác như Trà San Tuyết Mục Nhan, Trà Vàng Cổ Thụ Mục Nhan hay Trà Ô Long Mục Nhan. Các sản phẩm này có chất lượng không hề kém so với trà “tuyệt đỉnh” của Trung Quốc, chưa kể một số thành phần hữu ích trong sản phẩm có tỷ lệ còn cao hơn, đặc biệt là polyphenol, với đỉnh cao là 45,1% trong Cao trà Mục Nhan và được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục này vào ngày 02/04/2025 vừa qua. Kỷ lục này có ý nghĩa vô cùng to lớn khi polyphenol chất chống oxy hoá mạnh mẽ, có khả năng trung hòa gốc tự do, hỗ trợ phòng ngừa ung thư, làm chậm quá trình lão hoá tế bào và tỷ lệ này trong trà tự nhiên chỉ khoảng 10-18%, đối với trà thương mại bằng công nghệ hiện đại nhất hiện nay cũng chỉ đạt dưới 40%. Ngoài ra Cao trà Mục Nhan cũng có hàm lượng catechin (có tính năng phòng ngừa ung thu và giảm lão hóa tế bào tương tự polyphenol) khá cao, lên tới 19,9% và không bị biến đổi theo nhiệt độ, do đó có thể pha trà với nước nóng 95-100 độ mà trà không bị biến chất, có thể pha với nước ấm dùng luôn cũng được. Do nguyên liệu rẻ và tự sản xuất trong nước, Cao trà Mục Nhan hiện nay có giá chỉ bằng 1/10 so với trà cao cấp của Trung Quốc, với độ đậm đặc cực cao, một viên Cao trà đường kính khoảng 2cm có thể pha được 25 ấm trà, trong đó vùng ngon nhất ở các lượt pha thứ 9 đến 12.

Chị Lê Thị Hoa giới thiệu sản phẩm Cao trà Mục Nhan và các loại trà của Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ
Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể sản xuất được “tuyệt đỉnh Cao trà” với chất lượng tương đương các loại trà cao cấp nhất của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mà giá thành thấp hơn rất nhiều và có thể đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu sử dụng. Cao trà Mục Nhan không chỉ là sản phẩm tiên phong, hơn thế, còn xác lập kỷ lục quốc gia về thành phần có lợi cho sức khỏe, được quan tâm nhất hiện nay đó là chống lão hóa và phòng ngừa ung thư: chất polyphenol.

Xác lập kỷ lục Cao trà có hàm lượng polyphenol cao nhất tại Việt Nam
Đánh giá sản phẩm này, sau khi thưởng thức thực tế tại cuộc họp, TS. Nguyễn Thị Ngọc Dinh, người tự nhận mình là “nghiện trà” cho rằng đây là một sản phẩm tuyệt vời mà lần đầu chị được thưởng thức và mong muốn sản phẩm này sẽ được biết đến nhiều hơn. TS. Dinh góp ý, để làm được điều này, Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ – đơn vị sản xuất Cao trà Mục Nhan cần bổ sung thêm kết quả phân tích y sinh, bổ sung kế hoạch lấy mẫu, kiểm nghiệm sản phẩm để nâng cao chất lượng và đảm bảo tính an toàn cho sức khỏe con người về mặt pháp lý.
TS Nguyễn Hồng Hạnh góp ý nên có mã QR kể câu chuyện về từng loại trà phù hợp với xu hướng thưởng trà hiện nay. PGS.TS Đỗ Thị Việt Hương bổ sung cảm quan về các sản phầm trà để nâng cao ý nghĩa của sản phẩm về mặt văn hóa và lợi ích sức khỏe cho người sử dụng. Theo TS. Hương, nên bổ sung thêm các thông số kỹ thuật như nhiệt độ, độ ẩm… trong quy trình sản xuất cũng như hướng dẫn sử dụng. ThS Đào Văn Núi cho rẳng doanh nghiệm nên bổ sung tiêu chuẩn cơ sở cho vùng nguyên liệu còn KS Phùng Văn Chung tư vấn doanh nghiệp về các chứng chỉ nông nghiệp đáp ứng TCVN, QCVN để sản phẩm được công nhận rộng rãi hơn.
Phát biểu tại cuộc họp, TS Phạm Đình Nam, Viện trưởng VITAD-AGRI đề nghị Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ nên có phương án tốt cho việc phát triển vùng nguyên liệu, để bà con nông dân – chủ các cây trà cổ – có thể phát triển nguyên liệu nhiều hơn, tốt hơn, bán với giá cao hơn, sống tốt và tiến tới làm giàu nhờ nguyên liệu mình trồng.

TS. Phạm Đình Nam – chuyên gia Kinh tế Nông nghiệp – phát biểu tại cuộc họp
PGS.TS Trần Mạnh Trí, Chủ tịch hội đồng đã tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, đánh giá cao Cao trà Mục Nhan, tin tưởng sản phẩm này sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Ông cũng hứa với doanh nghiệp sẽ có những kiến nghị lên các cấp hỗ trợ bà con phát triển vùng nguyên liệu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có lợi cho sức khỏe mà đậm đà tính văn hóa này.

PGS.TS Trần Mạnh Trí – Chủ tịch Hội tổng hợp ý kiến của các thành viên Hội đồng khoa học
Theo ông, việc phát triển các sản phẩm trà của Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ hoàn toàn khả thi và trong tương lai gần, các loại trà, đặc biệt là Cao trà Mục Nhan sẽ là thức uống tuyệt vời, là món quà quý giá và quen thuộc của người lữ hành, dễ mang theo sử dụng khi du lịch cũng như làm quà cho gia đình, người thân và cùng với sự nghiên cứu, đổi mới về công nghệ, những kỷ lục mới cũng sẽ được xác lập.

Hội đồng khoa học cam kết đồng hành cùng Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ trong quá trình phát triển các sản phẩm trà, đặc biệt là Cao trà Mục Nhan
Thực hiện: Thành Vinh
Triển lãm ngành Nông nghiệp và Môi trường khẳng định truyền thống, thể hiện bước tiến mới
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, Triển lãm ngành Nông nghiệp và Môi trường phải hội tụ những thành tựu tiêu biểu nhất trong 8 thập kỷ phát triển.

Gấp rút hoàn thành công tác trưng bày cho Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Linh Linh.
Chiều 25/8, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các đơn vị trực thuộc về công tác chuẩn bị cho Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Theo báo cáo, các đơn vị đã cơ bản hoàn tất khung thiết kế, bố cục trưng bày và đang gấp rút hoàn thiện các hạng mục để kịp tiến độ. Nhiều ý kiến đề xuất triển lãm cần tạo điểm nhấn rõ ràng, lựa chọn các sản phẩm, mô hình tiêu biểu nhất của ngành, đồng thời nhấn mạnh về nội dung về khoa học công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi và lâm nghiệp.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu các đơn vị rà soát, sắp xếp để Triển lãm thể hiện rõ dấu ấn 80 năm của ngành. Ảnh: Linh Linh.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh yêu cầu cao về chất lượng trưng bày. Theo Thứ trưởng, triển lãm lần này là dịp đặc biệt để tái hiện hành trình 80 năm phát triển của ngành, từ những năm tháng khó khăn thiếu đói đến thành tựu hôm nay khi nông nghiệp trở thành trụ đỡ của nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD cũng như môi trường – là một trong ba trụ cột phát triển bền vững của đất nước (kinh tế – xã hội – môi trường).
Thứ trưởng đề nghị các đơn vị rà soát kỹ, phân khu trưng bày theo các giai đoạn lịch sử và thành tựu nổi bật của từng lĩnh vực. Trồng trọt cần thể hiện rõ bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang nền nông nghiệp hàng hóa, với các sản phẩm tỷ đô như gạo, cà phê, rau quả. Chăn nuôi phải phản ánh sự phát triển từ quy mô hộ gia đình đến trang trại công nghệ cao, bảo đảm an toàn sinh học. Thủy sản cần có cả hình ảnh khai thác và nuôi trồng, thể hiện vai trò của ngư dân và thành tựu xuất khẩu. Lâm nghiệp giới thiệu giống cây, sản phẩm gỗ, tín chỉ carbon, mô hình rừng đa dụng. Lĩnh vực thủy lợi trưng bày các công trình tiêu biểu đã góp phần quan trọng vào an ninh lương thực và kiểm soát thiên tai. Môi trường và khoa học công nghệ phải được lồng ghép xuyên suốt, với các mô hình quan trắc, xử lý chất thải, công nghệ sinh học, vaccine…

Chiều 25/8, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các đơn vị trực thuộc về công tác chuẩn bị cho Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Linh Linh.
“Triển lãm phải toát lên được dấu ấn 80 năm, vừa khẳng định truyền thống, vừa thể hiện bước tiến mới, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên hiện đại. Các đơn vị cần phối hợp chặt chẽ, chọn lọc tinh gọn, sắp xếp khoa học, để khách tham quan dễ dàng cảm nhận được những thành tựu nổi bật nhất của ngành”, Thứ trưởng nói.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý, bên cạnh hiện vật, hình ảnh và phim tư liệu phải được thiết kế hợp lý, giúp truyền tải sinh động tới công chúng và báo chí. Các sản phẩm OCOP, làng nghề truyền thống sẽ được trưng bày như nền tảng bổ trợ, tạo sự phong phú bên cạnh những thành tựu then chốt của ngành.
Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường dự kiến khai mạc từ 28/8 đến 5/9 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia, xã Đông Anh, Hà Nội, trong khuôn khổ Triển lãm thành tựu kinh tế – xã hội đất nước kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. Với diện tích hàng trăm mét vuông, không gian trưng bày được bố trí thành các khu chuyên đề, tái hiện hành trình phát triển của ngành qua từng giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ kháng chiến, bao cấp, đến công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

Những thành tựu khoa học công nghệ gắn với các lĩnh vực sẽ được trưng bày tại Triển lãm. Ảnh: Linh Linh.
Hàng trăm sản phẩm, mô hình, hình ảnh, phim tư liệu sẽ được giới thiệu, trong đó có những điểm nhấn đặc sắc như cây cà phê Tây Nguyên thật, mô hình rừng đa dụng, công trình thủy lợi tiêu biểu, sản phẩm gỗ và tín chỉ carbon, cùng các ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và mô hình xử lý môi trường.
Triển lãm được tổ chức song song trên nền tảng trực tuyến với công nghệ 3D, VR, kéo dài đến tháng 8/2026, tạo điều kiện để đông đảo người dân và bạn bè quốc tế cùng tham quan, tương tác. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại những thành tựu nổi bật của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và môi trường trong 80 năm qua, mà còn khẳng định quyết tâm đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững của ngành trong giai đoạn tới.
Linh Linh
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
ĐƯỜNG CỎ NGỌT – LOẠI CÂY TRỒNG TIỀM NĂNG
Vừa qua, Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (Vitad – Agri) đã họp với đối tác đến từ tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức) về loại cây trồng tạo ra “đường không năng lượng” này.

Viện trưởng Phạm Đình Nam gặp gỡ Mr Hoàng Mộc Kiên và Mr Uber Thom về nguồn cung cấp dược liệu
Theo đó, ngày nay, tình trạng các bệnh liên quan đến việc thừa đường trong cơ thể người diễn ra khá nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe, thậm chí có thể gây tai biến cho con người, nhất là bệnh tiểu đường đối với người cao tuổi. Chính vì vậy các sản phẩm ngọt nhưng không chứa đường, hay chính xác hơn là sử dụng “đường không năng lượng” được người dùng ngày càng ưa chuộng. Một trong những sản phẩm đó là các loại nước uống, các thực phẩm chức năng có vị ngọt nhưng không chứa đường.
Đường cỏ ngọt cho người ăn kiêng
Làm một phép so sánh nho nhỏ, chúng ta có thể thấy lợi ích rất lớn từ loại “đường không năng lượng” này. Khi sử dụng chế phẩm dùng đường cỏ ngọt cho người ăn kiêng và cả người bình thường đều có thể ngăn ngừa tiểu đường và các căn bệnh khác liên quan đến đường mà vẫn đảm bảo sức khỏe và vị ngon. Coca Cola cũng đã áp dụng đường cỏ ngọt cho sản phẩm của mình, gọi là “Coca Cola light” có vị ngọt gần giống hương vị Cola truyền thống. Sản phẩm này có thể dùng cho người mắc bệnh tiểu đường.

Ưu điểm của đường không năng lượng
Cây đường có ngọt khá dễ trồng và có thể thu hoạch chỉ sau hơn 1 tháng bằng cách hái lá mà không làm hư hại đến cây. Đây là giống cây trồng có suất lợi nhuận lớn và thời gian thu hồi vốn nhanh. Các sản phầm từ đường cỏ ngọt càng ngày càng được thị trường ưa chuộng, chẳng hạn các loại trà, các loại nước giải khát…

Trà cỏ ngọt – một loại thức uống được giới trẻ ngày nay và người ăn kiêng ưa chuộng
Tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức) là một tập đoàn rất lớn của CHLB Đức, chuyên cung cấp các dược phẩm tự nhiên có lợi cho sức khỏe con người và rất quan tâm đến loại cây chế xuất ra “đường không năng lượng” này. Đây là cơ hội giúp bà con nông dân có thêm một loại cây trồng hiệu quả cao và là cơ hội hợp tác của các doanh nghiệp trong nước với một tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới. Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (Vitad – Agri) đã có chiến lược hợp tác lâu dài, sẵn sàng làm đầu mối liên kết giữa bà con nông dân và các doanh nghiệp chế biến nông sản trong nước với Tập đoàn Bayer trong việc thử nghiệm, kiểm nghiệm và xin cấp giấy chứng nhận VIETGAP, OCOP cho các sản phẩm “đường không năng lượng” chế biến từ cây đường cỏ ngọt, tiến tới chứng nhận hữu cơ cho các chế phẩm cơ lợi cho sức khỏe này.
Trụ sở và vùng trồng của Tập đoàn Bayer (Đức)
Quý vị có thể liên hệ với Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (Vitad – Agri) thông qua website này, hoặc số điện thoại +84 912217468 để phát triển giống cây trồng đường cỏ ngọt này.
Thực hiện: Thành Vinh
Tối ưu chi phí, làm giàu từ mô hình nông nghiệp tuần hoàn
ĐÀ NẴNG – Tận dụng lợi thế địa phương và tư duy sáng tạo, nhiều nông dân Đà Nẵng đang từng bước làm giàu từ mô hình nông nghiệp tuần hoàn, chi phí thấp mà hiệu quả cao.
Người truyền cảm hứng nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn ở Cốc San
Anh ra mắt mô hình nông nghiệp tuần hoàn giúp giải quyết nông sản dư thừa
Sản xuất giảm phát thải, lan tỏa trách nhiệm của ngành trồng trọt với môi trường
Nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ lan tỏa ở Tiên Phước
Gần 15 năm gắn bó với nghề nông, chị Nguyễn Thị Nhinh (thôn An Châu, xã Hòa Vang) đã xây dựng thành công mô hình nông nghiệp tuần hoàn cho hiệu quả cao. Xuất phát điểm chỉ với vài nghìn mét vuông đất và 8 con dê giống được địa phương hỗ trợ vào năm 2010, đến nay, chị đã sở hữu trang trại rộng gần 2 ha kết hợp trồng trọt và chăn nuôi.

Chị Nguyễn Thị Nhinh chăm sóc đàn dê tại trang trại chăn nuôi kết hợp trồng trọt theo mô hình tuần hoàn ở xã Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Ảnh: Phạm Huy.
Ban đầu, chị Nhinh trồng thanh long ruột đỏ trên diện tích 1.000 m² và chăn nuôi dê theo hướng tự nhiên. Nhận thấy tiềm năng phát triển, chị mạnh dạn vay 370 triệu đồng từ ngân hàng và tổ phụ nữ thôn để mở rộng quy mô sản xuất, mua thêm bò, xây chuồng trại, trồng thêm các loại cây có giá trị như mãng cầu, chuối lùn, rau ăn lá…
Đặc biệt từ năm 2017, chị quyết định chuyển đổi toàn bộ diện tích trồng cây kém hiệu quả sang trồng cỏ làm thức ăn cho vật nuôi. Song song đó, chị đầu tư xây 12 bể với diện tích 100 m² để nuôi trùn quế để vừa xử lý phân bò, phân dê, vừa tạo ra nguồn đạm tự nhiên cho vật nuôi.
Hiện trang trại của chị có hơn 100 con dê, 5 con bò, hơn 200 con gà, hơn 1 ha trồng cỏ và 200 m² trồng rau các loại. Trung bình 3 tháng chị thu 4 tạ phân chuồng để nuôi trùn quế. Mỗi năm, 12 bể trùn quế cho 5 đợt thu hoạch với sản lượng khoảng 180 kg/đợt. Trùn quế được dùng làm thức ăn cho gà, dê, bò, phần còn lại bán ra thị trường với giá 70.000 đồng/kg giun và 2.000 đồng/kg phân.
“Mô hình này giúp tôi giảm đáng kể chi phí thức ăn, tăng giá trị sản phẩm và hạn chế ô nhiễm môi trường. Dù thị trường biến động tôi vẫn có nguồn thu ổn định. Doanh thu trung bình mỗi năm từ 250 – 300 triệu đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi ròng 130 – 150 triệu đồng”, chị Nhinh chia sẻ.

Sâu canxi góp phần tái chế phế phẩm nông nghiệp, tạo nguồn thức ăn sạch và thân thiện với môi trường. Ảnh: Phạm Huy.
Thời gian tới, chị dự định mở rộng quy mô chăn nuôi, cải tạo chuồng trại, đưa cơ giới hóa vào sản xuất để nâng cao năng suất và giữ gìn vệ sinh môi trường.
Anh Nguyễn Quang Phú ở phường Hòa Khánh thì chọn hướng đi mới là đầu tư nuôi sâu canxi – sinh vật có vòng đời ngắn, ít tốn chi phí nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Sâu canxi là ấu trùng của ruồi lính đen, có giá trị cao trong chăn nuôi. Giai đoạn trưởng thành hoặc sau lột xác, sâu để lại lớp vỏ chứa hàm lượng canxi dồi dào. Cả sâu và vỏ đều có thể làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm.
Bắt đầu từ năm 2023, anh Phú đầu tư mô hình nuôi sâu canxi trên diện tích 100 m². Dù gặp không ít khó khăn do giai đoạn đầu sâu bò ra khỏi khay, chết bất thường, song anh vẫn kiên trì nghiên cứu, điều chỉnh điều kiện nuôi, nhiệt độ và thức ăn phù hợp.
Cơ sở vật chất để nuôi sâu khá đơn giản. Khay nuôi ấu trùng, lồng nuôi ruồi rộng khoảng 15 m³, khung sắt bọc vải mùng để ruồi giao phối và đẻ trứng. Trung bình 1 gram trứng sâu sẽ cho ra 2,5 – 3 kg sâu sau 15 – 20 ngày. Với 1 kg trứng mỗi năm, anh thu được khoảng 2,5 – 3 tấn sâu canxi. Giá bán 30 gram trứng là 170.000 đồng, 1 kg sâu 30.000 đồng, 1 kg phân sâu 7.000 đồng.

Khu nuôi trùn quế – một phần trong mô hình nông nghiệp tuần hoàn giúp tái sử dụng nguồn phân chuồng hiệu quả. Ảnh: Phạm Huy.
“Tôi quyết định gắn bó với mô hình này vì thấy rõ lợi ích kép, vừa xử lý được phế phẩm nông nghiệp, vừa làm thức ăn sạch, giàu dinh dưỡng cho vật nuôi. Gia đình tôi nuôi nhiều gà, vịt, từ khi dùng sâu canxi làm thức ăn, vật nuôi ít bệnh, chất lượng thịt ngon hơn, chi phí thức ăn giảm tới 70 – 80%”, anh Phú cho biết.
Hiện mỗi tháng anh Phú có thu nhập ổn định khoảng 8 – 10 triệu đồng từ việc bán trứng sâu, sâu trưởng thành và phân sâu. Đây là mô hình phù hợp với diện tích nhỏ, dễ nhân rộng, đặc biệt ở các khu vực đô thị có quỹ đất hạn chế.
Từ hai mô hình thực tế của chị Nhinh và anh Phú, có thể thấy phát triển nông nghiệp theo hướng tuần hoàn, tối ưu chi phí đang mở ra hướng đi hiệu quả cho nông dân Đà Nẵng. Không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình, mô hình còn góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng.
Trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng tăng, đất sản xuất ngày càng thu hẹp, những mô hình sử dụng hợp lý diện tích và nguồn lực như trên cần được nhân rộng, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối tiêu thụ và truyền thông mạnh mẽ, hướng đến nền nông nghiệp xanh, thông minh và phát triển bền vững.
Phạm Huy
Theo nongnghiep.vn
Vải u trứng trắng Thanh Hà
100.000 đồng/kg vải u trứng trắng Thanh Hà
Vải u trứng trắng ở Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đang được nhiều khách hàng đặt mua 100.000 đồng/kg, mức giá cao nhất trong các loại vải của địa phương này.
10 ngày nữa, vải thiều Thanh Hà chín sớm vào vụ thu hoạch
Vải thiều Thanh Hà dự báo được mùa to
Giá vải thiều cao nhất lịch sử, tỉnh Bắc Giang thu hơn 5,7 nghìn tỷ đồng
Lấy lúa, rau, thịt… bù đắp vải thiều mất mùa
Hiện nay, huyện Thanh Hà đã có một số hộ thu hoạch vải u trứng trắng. Chính quyền địa phương đã khuyến cáo người dân thu hoạch vải khi đã bảo đảm độ chín, để vải đạt chất lượng cao nhất. Vải u trứng trắng sẽ cho thu hoạch đúng thời điểm vào tuần tới.

Vải u trứng trắng sẽ cho thu hoạch rộ vào tuần tới. Ảnh: Minh họa.
Do trà vải u trứng trắng sản lượng không nhiều và cho thu hoạch sớm nhất, nên giá bán cao. Nhiều hộ có vải u trứng trắng cho biết nhiều khách quen đã đặt mua trước với giá 100.000 đồng/kg, cao hơn vải thiều chính vụ khoảng 40.000 đồng/kg.
Vải u trứng trắng có vị thơm, cùi dầy, quả to, mọng. Loại vải này sản lượng không lớn như các loại vải u hồng, u gai, tàu lai và vải thiều chính vụ.
Huyện Thanh Hà hiện có 3.285 ha vải, trong đó có khoảng 1.900 ha vải sớm trồng tập trung ở khu Hà Đông. Năm nay do ảnh hưởng của thời tiết lạnh kéo dài nên các trà vải cho thu hoạch muộn hơn khoảng 10 ngày.
Phạm Hoàng
Theo nongnghiep.vn







