Author Archives: Vitad Agri

Hợp tác Lúa gạo Việt Nam – Philippines: Hành trình Kết nối từ Cánh đồng Ninh Bình đến Thủ phủ Davao

NINH BÌNH – Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ đối tác nông nghiệp, ngày 14 tháng 5 năm 2026, phái đoàn cấp cao Philippines do ông Dony làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc quan trọng tại Công ty TNHH Cường Tân. Đây là một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh lúa lai, hiện đang đóng đóng vai trò hạt nhân kinh tế tại khu công nghiệp Trực Hùng, thuộc tỉnh Ninh Bình mới (được sáp nhập từ các tỉnh Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình cũ).

Toàn cảnh cuộc gặp mặt giữa phái đoàn Philippines và Công ty TNHH Cường Tân

Cuộc gặp gỡ không chỉ dừng lại ở việc tham quan cơ sở hạ tầng mà còn mở ra một chương mới trong quan hệ hợp tác lúa gạo giữa hai quốc gia, tập trung vào việc cung ứng giống chất lượng cao, chia sẻ kinh nghiệm canh tác và kiến tạo các chuỗi giá trị nông sản bền vững.

Cường Tân: 30 năm khẳng định vị thế “Hạt vàng Việt”

Đón tiếp phái đoàn tại trụ sở chính, ông Đoàn Văn Sáu – Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân – cùng ông Lâm Văn Chiểu – Phó Giám đốc công ty – đã bày tỏ niềm vinh dự khi được đón tiếp những người bạn từ Philippines. Trong không khí chân tình, ông Đoàn Văn Sáu đã điểm lại hành trình gần ba thập kỷ phát triển của doanh nghiệp.

Ông Đoàn Văn Sáu – Giám đốc  cùng ông Lâm Văn Chiểu – Phó Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân tiếp đoàn công tác Philippines

Được thành lập và bắt đầu tập trung vào lúa lai từ năm 1997 tại vùng đất Nam Định cũ, Cường Tân đã tạo nên những bước ngoặt lịch sử cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Dấu ấn đậm nét nhất chính là thương vụ mua lại bản quyền giống lúa lai hai dòng TH3-3 từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam vào năm 2008 với giá trị lên tới hơn 10 tỷ đồng – một con số kỷ lục vào thời điểm đó. Kể từ đó, Cường Tân liên tục đầu tư vào nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và xây dựng các vùng sản xuất giống quy mô lớn trên khắp cả nước, từ Nghệ An, Gia Lai đến Đắk Lắk.

Hiện nay, nhà máy của công ty tại Ninh Bình đạt năng suất ấn tượng với sản lượng hàng năm lên tới hơn 2.000 tấn lúa giống và hơn 3.000 tấn gạo thương phẩm chất lượng cao. Với hệ thống quản lý an toàn thực phẩm đạt chuẩn ISO 22000:2018, các sản phẩm của Cường Tân đã chinh phục được những thị trường khắt khe nhất thế giới.

Ông Đoàn Văn Sáu dẫn đoàn đi tham quan Nhà máy sản xuất lúa giống và gạo chất lượng cao

Vươn tầm quốc tế: Từ Cuba, Hoa Kỳ đến “trái tim” Châu Âu

Trong buổi làm việc, phái đoàn Philippines đặc biệt ấn tượng với năng lực xuất khẩu của Cường Tân. Không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo an ninh lương thực trong nước, công ty đã đưa “hạt giống hạnh phúc” của Việt Nam vươn ra toàn cầu.

  1. Dấu ấn tại Cuba: Giống lúa lai CT16 của Cường Tân đã gây “sốt” tại đảo quốc này khi đạt năng suất 7 – 8 tấn/ha, cao gấp đôi so với các giống lúa truyền thống tại địa phương. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho khả năng thích ứng của giống lúa Việt Nam với các điều kiện thổ nhưỡng khác nhau, mở ra cơ hội hợp tác lớn cho các quốc gia có điều kiện tương đồng như Philippines.
  2. Chinh phục thị trường Hoa Kỳ: Cường Tân là một trong số ít doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thành công hạt giống sang Mỹ, đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm dịch và chất lượng nghiêm ngặt của quốc gia này.
  3. Hương cốm Việt tại Châu Âu: Các dòng gạo chất lượng cao, đặc biệt là gạo Hương cốm, đã hiện diện tại các siêu thị lớn ở Đức, Ba Lan, Pháp. Nhờ tận dụng hiệu quả Hiệp định EVFTA, gạo Cường Tân đã khẳng định được vị thế hàng đầu về độ thơm ngon, mềm dẻo và an toàn thực phẩm tại thị trường EU.

Mô hình liên kết 5 sao: Sinh kế bền vững cho người nông dân

Tại cuộc họp, ông Đoàn Văn Sáu đã chia sẻ về triết lý kinh doanh cốt lõi của công ty: “Nông dân giàu thì doanh nghiệp mới mạnh”. Cường Tân vận hành theo mô hình bao tiêu khép kín, từ cung cấp giống, phân bón hữu cơ đến hướng dẫn quy trình sản xuất sạch cho nông hộ.

Điểm độc đáo của mô hình này là hình thức thu hoạch khoán và mua lại phần lúa dôi ra theo giá thị trường, giúp người nông dân vừa yên tâm về đầu ra, vừa có thêm động lực chăm sóc lúa để đạt năng suất cao nhất. Chính mô hình liên kết chặt chẽ này đã đảm bảo chất lượng lúa gạo đồng nhất, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe đồng thời cải thiện trực tiếp đời sống của hàng nghìn hộ nông dân tại Ninh Bình và các chi nhánh trên toàn quốc.

Tiềm năng hợp tác Việt Nam – Philippines: Hướng tới 2026 và xa hơn

Ông Dony, trưởng đoàn Philippines, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với mô hình vận hành của Cường Tân. Ông nhấn mạnh rằng Philippines hiện là đối tác nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, với kế hoạch nhập khẩu 3,6 triệu tấn gạo trong năm 2026. Tuy nhiên, mục tiêu của phái đoàn lần này không chỉ là giao thương hàng hóa mà còn là tìm kiếm các đối tác tin cậy để chuyển giao công nghệ lúa giống và kinh nghiệm cơ giới hóa nông nghiệp.

TS. Trần Đăng Khoa, Phó trưởng đoàn kiêm phiên dịch, thay mặt đoàn công tác gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo công ty: “Chúng tôi nhìn thấy ở Cường Tân không chỉ là một nhà sản xuất lúa gạo mà là một trung tâm tri thức nông nghiệp. Sự hợp tác toàn diện giữa hai bên sẽ giúp Philippines nâng cao năng lực tự chủ lương thực thông qua các bộ giống lúa lai năng suất cao.”

Hai bên đã thảo luận sâu về khả năng nhập khẩu các giống lúa như CT16 và Hương cốm sang Philippines, đồng thời tổ chức các chương trình trao đổi chuyên gia để học hỏi kinh nghiệm canh tác lúa của nhau. Ông Dony chia sẻ, ông cảm nhận được sự chân thành từ phía ông Sáu và coi đây là mối quan hệ giữa những “người bạn tốt” hơn là những đối tác kinh doanh thuần túy.

Ông Dony cảm nhận được sự chân thành từ phía ông Sáu và coi đây là mối quan hệ giữa những “người bạn tốt” hơn là những đối tác kinh doanh thuần túy

Lời mời đến Davao và Bữa cơm thấm tình hữu nghị

Cuối buổi làm việc, một sự kiện xúc động đã diễn ra khi ông Dony nồng nhiệt gửi lời mời tới Ban lãnh đạo Công ty TNHH Cường Tân sang thăm Philippines vào tháng 6 tới, nhân dịp chào mừng thành lập bang Davao – vùng đất được mệnh danh là “Thủ phủ dừa” nhưng cũng có tiềm năng nông nghiệp cực lớn của Philippines, đặc biệt là ngành lúa gạo. Ông Dony khẳng định phía Philippines sẽ đài thọ toàn bộ chi phí ăn ở và mong muốn được đón tiếp những người bạn Việt Nam tại quê hương mình.

Để đáp lại tình cảm đó, ông Đoàn Văn Sáu và ông Lâm Văn Chiểu đã mời phái đoàn dùng bữa cơm thân mật tại công ty. Điều đặc biệt, món chính của bữa cơm chính là gạo Hương cốm – loại gạo đặc sản do chính Cường Tân sản xuất và đang được xuất khẩu sang EU. Mùi hương lá dứa hòa quyện với hương cốm non tỏa ra từ bát cơm trắng ngần, dẻo thơm đã khiến các thành viên trong phái đoàn Philippines không ngớt lời khen ngợi.

Trước khi chia tay, lãnh đạo công ty đã tặng phái đoàn những món quà mang đậm bản sắc văn hóa và thương hiệu: Bộ tờ quảng cáo nhận diện thương hiệu chuyên nghiệp, những chiếc mũ tai bèo cỡ lớn gắn liền với hình ảnh người nông dân Việt Nam cần cù trong nắng gió và đặc biệt là túi gạo Hương cốm loại đặc biệt. Ông Đoàn Văn Sáu đã vui vẻ nhận lời mời và hứa sẽ sang thăm Davao vào tháng tới để hiện thực hóa các cam kết hợp tác.

Kết luận

Chuyến thăm của phái đoàn Philippines tới Công ty TNHH Cường Tân vào ngày 14/5/2026 đã khép lại với những nụ cười và những cái bắt tay siết chặt. Vượt lên trên những con số về sản lượng và kim ngạch, đây là minh chứng cho sức mạnh của sự tin cậy và tinh thần hợp tác cùng phát triển. Hạt gạo Cường Tân từ cánh đồng Ninh Bình, mang theo tâm huyết của người nông dân Việt Nam, đang sẵn sàng nảy mầm và tỏa hương trên đất nước Philippines, góp phần xây dựng một cộng đồng nông nghiệp Đông Nam Á bền vững và thịnh vượng.

Phút chia tay đầy quyến luyến 

Một số hình ảnh khác trong chuyến công tác:

         

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban Công nghệ

Hợp tác Nông nghiệp Việt Nam – Philippines: Kiến tạo Tương lai Xanh và Nâng tầm Chuỗi Giá trị Toàn cầu

HÀ NỘI – Ngày 13 tháng 5 năm 2026 đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác nông nghiệp giữa Việt Nam và Philippines. Tại trụ sở Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) – 24 Lý Thường Kiệt – Hoàn Kiếm – Hà Nội, cuộc hội thảo chiến lược và buổi làm việc cấp cao đã diễn ra giữa phái đoàn Philippines và các chuyên gia hàng đầu Việt Nam. Sự kiện không chỉ đơn thuần là buổi giao lưu kỹ thuật mà còn mở ra những triển vọng đầu tư quy mô lớn trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và thực phẩm hữu cơ.

 

Toàn cảnh cuộc họp bàn về hợp tác nông nghiệp giữa phái đoàn Davao – Philippines và VITAD-AGRI

  Khởi đầu cho một tầm nhìn chung về Nông nghiệp bền vững

Cuộc gặp gỡ được chủ trì bởi TS. Phạm Đình Nam, Viện trưởng VITAD-AGRI. Về phía Philippines, phái đoàn do ông Dony làm trưởng đoàn đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến các mô hình nông nghiệp thông minh mà Việt Nam đang triển khai thành công. Trong bối cảnh ngành nông nghiệp khu vực đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu và yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế, sự kết hợp giữa công nghệ ứng dụng của Việt Nam và tiềm năng nguồn lực của Philippines được kỳ vọng sẽ tạo nên một “cú hích” chiến lược.

Việt Nam hiện đã khẳng định vị thế là cường quốc nông sản khi kim ngạch xuất khẩu dừa chính thức vượt mốc 1,15 tỷ USD vào năm 2025, giữ vững vị trí thứ ba thế giới sau Philippines và Indonesia. Sự thăng tiến vượt bậc này là kết quả của việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ chế biến sâu – những kinh nghiệm quý báu mà các chuyên gia VITAD-AGRI sẵn sàng chia sẻ cùng đối tác Philippines.

Chuyển giao Công nghệ: Hạt nhân của sự hợp tác

Mở đầu buổi làm việc, TS. Trần Đăng Khoa – giảng viên Khoa Công nghệ nông nghiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội – đã trình bày bức tranh toàn cảnh về các công nghệ nông nghiệp tiềm năng. Theo TS. Khoa, Việt Nam đang sở hữu những giải pháp đột phá có thể áp dụng ngay cho các cây trồng chủ lực của Philippines như lúa gạo, dừa và cà phê.

TS. Trần Đăng Khoa phát biểu về tiềm năng hợp tác giữa Philippines và Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp

Riêng đối với ngành dừa, sự khác biệt về năng suất là điểm nhấn quan trọng. Trong khi năng suất trung bình tại Philippines đạt khoảng 3.719 trái/ha/năm, Việt Nam đã đạt mức ấn tượng 8.294 trái/ha/năm nhờ ứng dụng các giống dừa cải tiến và kỹ thuật thâm canh thông minh. Việc chuyển giao các công nghệ AI trong giám sát sức khỏe cây trồng và quy trình quản lý dịch hại đồng bộ (như đối phó với bọ cánh cứng và sâu đầu đen) sẽ giúp Philippines tối ưu hóa năng lực sản xuất của 340 triệu cây dừa hiện có.

Bên cạnh đó, các giải pháp cho ngành lúa gạo cũng được thảo luận sâu, đặc biệt trong bối cảnh Philippines dự kiến nhập khẩu từ 3,6 triệu tấn gạo vào năm 2026, trong đó khoảng 75-80% nguồn cung đến từ Việt Nam. Sự hợp tác công nghệ sẽ giúp hai bên không chỉ dừng lại ở giao thương thương mại mà còn tiến tới hợp tác sản xuất giống lúa chất lượng cao, chịu mặn và thích ứng biến đổi khí hậu.

Khẳng định thương hiệu và Tiêu chuẩn Hữu cơ quốc tế

Một phần không thể thiếu trong chuỗi giá trị nông sản là công tác chứng nhận và tiêu chuẩn hóa. Ông Nguyễn Ngọc Tùng, Phó Tổng giám đốc VINACAB, đã giới thiệu hồ sơ năng lực về dịch vụ chứng nhận và chiến lược “kiến tạo giá trị, khẳng định thương hiệu”. Ông Tùng nhấn mạnh rằng, để nông sản Philippines thâm nhập sâu vào các thị trường khó tính như Mỹ hay EU, việc đạt được các chứng chỉ như BRCGS, IFS hay các mã số vùng trồng (MSVT) là điều kiện bắt buộc.

Ông Nguyễn Ngọc Tùng giới thiệu về công tác chứng nhận và tiêu chuẩn hóa

Tiếp nối chủ đề này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Dinh từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trình bày chi tiết về các tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ. Hiện nay, Việt Nam đã phát triển được hơn 24.000 ha dừa hữu cơ đạt chuẩn USDA (Mỹ) và EU Organic. Kinh nghiệm xây dựng các chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để sản xuất sạch là giải pháp tối ưu mà Philippines có thể áp dụng để nâng cao giá trị cho 3,6 triệu ha đất trồng dừa của mình. Tiềm năng hợp tác trong ngành lúa gạo cũng rất lớn.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Dinh trình bày chi tiết về các tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ

Các chuyên gia khác của VITAD-AGRI: TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, giảng viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam; ThS Nguyễn Xuân Thọ, chuyên gia nghiên cứu và thực nghiệm nông nghiệp Israel; ThS Hoàng Văn Niên, chuyên gia về nông nghiệp hữu cơ; ThS Lê Ngọc Thành Vinh, chuyên gia về số hóa nông nghiệp cũng phát biểu những nội dung liên quan đến tiềm năng tác về khoa học công nghệ giứa hai quốc gia Philippines trong tình hình mới.

Dự án đáng chú ý: Viên nén sinh khối và Hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn

Một điểm nhấn thu hút sự quan tâm của phái đoàn Philippines là dự án đầu tư của Công ty Cổ phần Evergy Phú Yên (thuộc Tập đoàn Evergy Asia), do TS. Phạm Đình Nam trực tiếp giới thiệu. Đây là mô hình kinh tế tuần hoàn điển hình đặt tại Quốc lộ 29, xã Đức Bình, tỉnh Đắk Lắk.

TS. Phạm Đình Nam giới thiệu Viên nén sinh khối của Evergy Phú Yên

Thông số kỹ thuật của Dự án Evergy Đắk Lắk:

Hạng mục

Chi tiết

Công suất nhà máy

300.000 tấn viên nén nhiệt sinh khối/năm

Vùng nguyên liệu

3.200 ha trồng cỏ voi Napier (giống năng suất cao)

Mô hình tổ chức

05 Hợp tác xã nông nghiệp liên kết

Quy mô hộ dân

Khoảng 500 hộ gia đình tham gia canh tác

Sản phẩm phụ trợ

Cung ứng phân bón hữu cơ chất lượng cao

Dự án này không chỉ giải quyết bài toán năng lượng xanh mà còn mang lại giá trị gia tăng khổng lồ thông qua việc sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm. Trong bối cảnh Philippines đang nỗ lực trồng mới 50 triệu cây dừa vào năm 2026 và thực hiện chương trình bón phân cho 340 triệu cây hiện có, cũng như phát triển mở rộng diện tích trồng lúa, nguồn phân bón hữu cơ từ dự án này chính là mắt xích hợp tác hoàn hảo. TS. Phạm Đình Nam khẳng định, Evergy không chỉ bán sản phẩm mà sẵn sàng cùng đối tác xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, từ năng lượng đến dinh dưỡng cây trồng.

Lời mời từ Davao và Tầm nhìn tương lai

Đáp lại sự đón tiếp nồng hậu, ông Dony – Trưởng đoàn Philippines – đã bày tỏ sự cảm kích và đánh giá cao những công nghệ mà phía Việt Nam trình bày. Ông khẳng định: “Philippines không chỉ xem Việt Nam là một đối tác thương mại hàng đầu mà còn là một đồng minh công nghệ nông nghiệp chiến lược.”

Ông Dony – Trưởng đoàn Philippines  bày tỏ sự cảm kích và đánh giá cao sự hợp tác giữa hai bên

Để hiện thực hóa các cam kết, ông Dony đã trân trọng mời Viện trưởng VITAD-AGRI cùng các chuyên gia của Viện sang thăm và làm việc tại Philippines trong thời gian tới. Đặc biệt, một lời mời trang trọng đã được gửi tới lãnh đạo Công ty Cổ phần Evergy để tham dự lễ chào mừng thành lập bang Davao vào tháng 6 sắp tới. Đây sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp khảo sát thị trường và ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác thực địa.

Kết luận

Cuộc làm việc ngày 13/5/2026 không chỉ là một sự kiện ngoại giao mà là sự hội tụ của tri thức, công nghệ và khát vọng vươn tầm của nông nghiệp Đông Nam Á. Với sự hỗ trợ kỹ thuật từ VITAD-AGRI, sự cam kết về chất lượng từ VINACAB và những dự án mang tính đột phá như Evergy, quan hệ hợp tác Việt Nam – Philippines đang đứng trước một chương mới. Sự kết hợp giữa năng lực chế biến sâu của Việt Nam và tài nguyên dồi dào của Philippines sẽ tạo nên một sức mạnh cộng hưởng, đưa nông sản khu vực tiến xa hơn trên bản đồ giá trị toàn cầu.

Hành trình từ Hà Nội đến Davao không chỉ là khoảng cách địa lý, mà là con đường chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kiến tạo những giá trị bền vững cho thế hệ tương lai.

Chụp ảnh lưu niệm cuối cuộc họp

Một số hình ảnh khác:

                

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban Công nghệ

QUYẾT ĐỊNH 885/QĐ-TTg VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH TẠI VIỆT NAM

Quyết định 885/QĐ-TTg (2020) phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, đặt mục tiêu mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển chuỗi giá trị bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Quyết định, đồng thời phân tích vai trò và những yêu cầu đối với hợp tác xã (HTX) trong lĩnh vực sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học – yếu tố then chốt của hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ.

 

  1. Giới thiệu

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch sang hướng bền vững, Quyết định 885/QĐ-TTg đóng vai trò chiến lược trong việc định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Không chỉ tập trung vào sản xuất nông sản, Quyết định còn nhấn mạnh đến hệ sinh thái đầu vào, đặc biệt là phân bón hữu cơ và chế phẩm sinh học, tạo cơ hội lớn cho các HTX tham gia chuỗi giá trị.

 

  1. Nội dung chính của Quyết định 885/QĐ-TTg

2.1. Mục tiêu tổng quát

– Phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại, bền vững, thân thiện môi trường;

– Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp;

– Tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

2.2. Các chỉ tiêu cụ thể

Chỉ tiêu

Đến năm 2025

Đến năm 2030

Diện tích đất nông nghiệp hữu cơ

1,5 – 2%

2,5 – 3%

Sản phẩm chăn nuôi hữu cơ

1 – 2%

2 – 3%

Sản phẩm thủy sản hữu cơ

0,5 – 1,5%

1,5 – 3%

Giá trị sản phẩm/ha

Tăng 1,3-1,5 lần

Tăng 1,5-1,8 lần

2.3. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách

– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về nông nghiệp hữu cơ;

– Đồng bộ hóa với tiêu chuẩn quốc tế (EU, USDA…).

(2) Phát triển đầu vào cho sản xuất hữu cơ

– Khuyến khích sản xuất:

+ Phân bón hữu cơ, phân vi sinh,

+ Chế phẩm sinh học,

+ Thuốc BVTV sinh học.

Đây là điểm then chốt liên quan trực tiếp đến HTX sản xuất đầu vào.

(3) Tổ chức sản xuất theo chuỗi

  • Xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ tập trung;
  • Liên kết HTX – doanh nghiệp – nông dân – nhà khoa học;
  • Phát triển chuỗi giá trị từ sản xuất → chế biến → tiêu thụ.

(4) Khoa học công nghệ và chuyển giao

– Ứng dụng:

+ Công nghệ sinh học,

+ Công nghệ vi sinh,

+ Công nghệ số trong quản lý sản xuất hữu cơ.

(5) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

– Tăng cường đào tạo kỹ thuật sản xuất hữu cơ;

– Nâng cao năng lực cho HTX, doanh nghiệp.

(6) Xúc tiến thương mại và thị trường

– Hỗ trợ xây dựng thương hiệu;

– Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;

– Truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sản phẩm.

2.4. Chính sách hỗ trợ

– Hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;

– Hỗ trợ đào tạo, tập huấn;

– Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;

– Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại;

– Huy động nguồn lực từ ngân sách + xã hội hóa.

 

  1. Vai trò của HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học

HTX không chỉ là đơn vị sản xuất mà còn là:

– Nhà cung cấp đầu vào chiến lược cho nông nghiệp hữu cơ;

– Trung tâm chuyển giao công nghệ vi sinh;

– Cầu nối giữa nghiên cứu – sản xuất – thị trường.

Các sản phẩm chính:

– Phân hữu cơ truyền thống (compost);

– Phân hữu cơ vi sinh (có chủng vi sinh vật hữu ích);

– Chế phẩm sinh học (EM, Trichoderma, Bacillus, enzyme…).

 

  1. Lưu ý quan trọng cho HTX sản xuất phân bón và chế phẩm sinh học

4.1. Tuân thủ pháp lý

– Sản phẩm phải:

+ Được công bố hợp quy / đăng ký lưu hành;

+ Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;

– Không chứa:

+ Kim loại nặng vượt ngưỡng;

+ Vi sinh vật gây hại;

+ Thành phần hóa học bị cấm trong hữu cơ.

 4.2. Kiểm soát chất lượng vi sinh

– Chủng vi sinh phải:

+ Rõ nguồn gốc;

+ Có mật độ (CFU) đạt tiêu chuẩn;

– Đảm bảo:

+ Khả năng sống,

+ Hiệu quả thực tế ngoài đồng ruộng.

4.3. Chuẩn hóa quy trình sản xuất

– Xây dựng quy trình:

+ Lên men (hiếu khí/kỵ khí),

+ Ủ compost,

+ Nhân sinh khối vi sinh;

– Áp dụng tiêu chuẩn:

+ ISO

+ HACCP hoặc tương đương.

4.4. Liên kết chuỗi giá trị

– HTX cần liên kết với:

+ HTX trồng trọt hữu cơ (đầu ra sử dụng sản phẩm);

+ Doanh nghiệp phân phối;

+ Viện nghiên cứu (cải tiến công nghệ).

4.5. Định hướng thị trường

– Sản phẩm cần:

+ Phù hợp tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế;

+ Có hồ sơ kỹ thuật rõ ràng;

– đến:

+ Xuất khẩu;

+ Cung cấp cho các vùng nông nghiệp công nghệ cao.

4.6. Đổi mới công nghệ

– Ứng dụng:

+ Công nghệ nano sinh học;

+ Công nghệ enzyme;

+ Công nghệ lên men thế hệ mới;

– Tích hợp mô hình:

+ Zero Waste – tuần hoàn sinh học không phát thải.

 

  1. Thảo luận

Quyết định 885/QĐ-TTg mở ra cơ hội lớn cho HTX, nhưng cũng đặt ra thách thức:

– Yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng;

– Cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu;

– Đòi hỏi đầu tư công nghệ và quản lý.

Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt:

– HTX có thể trở thành nhà cung cấp đầu vào chiến lược,

– Góp phần định hình hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

 

  1. Kết luận

Quyết định 885/QĐ-TTg không chỉ là định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ mà còn là cơ hội chiến lược cho các HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học.

Việc tuân thủ tiêu chuẩn, đầu tư công nghệ và liên kết chuỗi giá trị sẽ giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban công nghệ 

TỔNG QUAN NGHỊ ĐỊNH 109/2018/NĐ-CP VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC

Tóm tắt (Abstract)

Nghị định 109/2018/NĐ-CP là khung pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động sản xuất, chứng nhận và thương mại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Nghị định đặt ra các nguyên tắc nghiêm ngặt về canh tác, kiểm soát đầu vào, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận, đồng thời đưa ra các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Nghị định và phân tích các yêu cầu, cơ hội cũng như lưu ý thực tiễn đối với hợp tác xã nông nghiệp trong việc ứng dụng chế phẩm sinh học.

 

  1. Giới thiệu

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và nhu cầu tiêu dùng an toàn gia tăng. Tại Việt Nam, Nghị định 109/2018/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầu tiên quy định toàn diện về lĩnh vực này, từ sản xuất đến tiêu thụ.

Đối với các HTX nông nghiệp, đặc biệt là các mô hình canh tác công nghệ cao và tuần hoàn sinh học, việc hiểu và tuân thủ Nghị định là điều kiện tiên quyết để tham gia thị trường hữu cơ trong nước và quốc tế.

 

  1. Nội dung chính của Nghị định 109/2018/NĐ-CP

2.1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định quy định về:

  • Sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ;
  • Chứng nhận, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc;
  • Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Áp dụng cho các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và sản phẩm chế biến hữu cơ.

2.2. Nguyên tắc sản xuất hữu cơ

Các nguyên tắc cốt lõi bao gồm:

  • Không sử dụng hóa chất tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, phân bón vô cơ, chất kích thích sinh trưởng;
  • Không sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO);
  • Bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất;
  • Áp dụng phương pháp canh tác tuần hoàn, sinh học và bền vững.

2.3. Yêu cầu về đầu vào

  • Chỉ sử dụng vật tư đầu vào được phép trong sản xuất hữu cơ, bao gồm:
    • Phân bón hữu cơ, phân vi sinh;
    • Chế phẩm sinh học, vi sinh vật có lợi;
    • Thuốc bảo vệ thực vật sinh học (có nguồn gốc tự nhiên).
  • Nguồn gốc, thành phần và quy trình sản xuất của các vật tư phải được kiểm soát và công bố rõ ràng.

2.4. Chứng nhận và ghi nhãn

  • Sản phẩm hữu cơ phải được tổ chức chứng nhận được chỉ định đánh giá và cấp chứng nhận.
  • Có thể áp dụng:
    • Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)
    • Hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương (EU Organic, USDA Organic…)
  • Sản phẩm đạt chuẩn được phép gắn logo “Hữu cơ Việt Nam”.
  • Bắt buộc có hệ thống truy xuất nguồn gốc.

2.5. Hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS)

Đối với HTX hoặc nhóm nông dân:

  • Phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal Control System – ICS);
  • Theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất của từng thành viên;
  • Ghi chép nhật ký sản xuất đầy đủ và minh bạch.

2.6. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước

Nghị định quy định nhiều cơ chế hỗ trợ:

  • 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;
  • 100% chi phí khảo sát đất, nước, môi trường;
  • Hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật;
  • Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;
  • Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại.

 

  1. Vai trò của chế phẩm sinh học trong nông nghiệp hữu cơ

Chế phẩm sinh học là yếu tố trung tâm thay thế cho hóa chất trong hệ thống hữu cơ. Bao gồm:

  • Vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân;
  • Nấm đối kháng, vi khuẩn kiểm soát dịch bệnh;
  • Enzyme sinh học, chế phẩm lên men;
  • Chế phẩm cải tạo đất, xử lý môi trường.

Vai trò:

  • Cải thiện độ phì đất;
  • Tăng sức đề kháng cây trồng;
  • Giảm chi phí đầu vào dài hạn;
  • Phù hợp với mô hình Zero Waste – tuần hoàn sinh học.

 

  1. Lưu ý quan trọng đối với Hợp tác xã khi sử dụng chế phẩm sinh học

4.1. Về pháp lý

  • Chế phẩm sinh học phải:
    • nguồn gốc rõ ràng,
    • Được phép lưu hành tại Việt Nam (công bố hợp quy hoặc đăng ký).
  • Không sử dụng chế phẩm có thành phần bị cấm trong sản xuất hữu cơ.

4.2. Về kỹ thuật

  • Phải sử dụng đúng:
    • Chủng vi sinh,
    • Nồng độ,
    • Quy trình ứng dụng (đất, lá, nước).
  • Không trộn lẫn tùy tiện với hóa chất (sẽ làm mất tác dụng vi sinh).

4.3. Về quản lý nội bộ (ICS)

  • HTX cần:
    • Lập quy trình chuẩn (SOP) cho từng loại chế phẩm;
    • Ghi chép nhật ký sử dụng chi tiết;
    • Kiểm tra định kỳ từng hộ thành viên.

4.4. Về kinh tế

  • Chế phẩm sinh học thường:
    • Chi phí ban đầu cao hơn,
    • Nhưng hiệu quả dài hạn tốt hơn (giảm chi phí thuốc BVTV, cải tạo đất).
  • Cần xây dựng mô hình trình diễn để thuyết phục nông dân.

4.5. Về liên kết thị trường

  • Chỉ khi có chứng nhận hữu cơ:
    • Sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao;
    • Mới tiếp cận được thị trường xuất khẩu.
  • HTX cần liên kết với:
    • Doanh nghiệp tiêu thụ,
    • Đơn vị chứng nhận,
    • Nhà cung cấp chế phẩm uy tín.

 

  1. Thảo luận

Nghị định 109/2018/NĐ-CP tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ nhưng cũng rất chặt chẽ.
Thách thức lớn nhất đối với HTX là:

  • Chi phí chứng nhận,
  • Năng lực quản lý nội bộ,
  • Nhận thức của nông dân.

Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Nhà nước và xu hướng tiêu dùng xanh, đây là cơ hội lớn để:

  • Chuyển đổi mô hình sản xuất,
  • Tăng giá trị sản phẩm,
  • Hướng tới xuất khẩu.

 

  1. Kết luận

Nghị định 109/2018/NĐ-CP là nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Đối với HTX nông nghiệp, việc tuân thủ các quy định về đầu vào, chứng nhận và hệ thống kiểm soát nội bộ là điều kiện bắt buộc.

Việc ứng dụng chế phẩm sinh học không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chiến lược phát triển bền vững, giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.

Link tài liệu: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2018/08/109-2018-nd-cp.signed.pdf

Thực hiện: Thành Vinh

Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam

VFARM, VITAD THAM GIA “ TẾT TRỒNG CÂY” CÙNG DNCC GLOBAL

Sáng 14/3/2026, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam đã đến tham dự ngày “Tết trồng cây” tại Ba Vì – Hà Nội cùng Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global – một phần trong dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” của DNCC, do TREEBOOM – cộng đồng xanh và chống biến đổi khí hậu Net Zero của DNCC chủ trì.

Toàn cảnh “Tết trồng cây” do TREBOOM chủ trì

Về dự ngày “Tết trồng cây” này, có rất nhiều chuyên gia nông nghiệp hàng đầu khu vực phía Bắc Việt Nam:

  • Đại điện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là là ông Hy Thành Trung Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc, bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập và bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc.
  • Đại diện Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global là bà Nguyễn Thu Huyền, Giám đốc kinh doanh.
  • Đại diện Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam là TS Phạm Đình Nam, Viện Trưởng.
  • Đại diện cho Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) là PGS.TS Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 
  • Cùng các thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM, chuyên viên của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global, chuyên gia Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, thành viên Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) và các chuyên gia nông nghiệp về tham dự ngày lễ ý nghĩa này.

Lễ trồng cây đàn hương năm nay là sự kiện đánh dấu công tác Chuyển đổi Số – Đổi mới sáng tạo & Tăng trường Xanh của DNCC đồng thời là sự hợp tác toàn diện giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp số (DNCC Global) với Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam trong vai trò định hướng, đào tạo về nông nghiệp hữu cơ.

Dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” được DNCC thể hiện với sự nỗ lực thực hiện với sự tập trung tốt nhất. Sự kiện Tết trồng Cây đầu năm mới như là một bước khởi đầu dự án một cách thực sự ý nghĩa mà mọi người chung tay cùng nhau hoàn thành một dự án đầy tính nhân vân và có hiệu quả kinh tế, được cộng đồng quan tâm.

Các đại biểu của VFARM, VITAD, DNCC và VGA tham dự “Tết trồng cây”

Như đã đưa tin từ bài báo trước, VFARM tài trợ chế phẩm sinh học SungWon DX, một loại thúc đẩy cho cây và một loại xử lý môi trường cho DNCC Global sử dụng ở “Tết trồng cây” lần này, với việc tưới lót khi làm đất và tưới lá, tưới thân 500 cây đàn hương sau khi trồng. Cùng với VITAD, ba bên cũng nhất trí lập Biên bản ghi nhớ (MOU) sự hợp tác này và các điều khoản hợp tác sẽ được thảo luận để cùng nhau phát triển. Ba bên cũng thống nhất thành lập Tổ công tác để theo dõi sự sinh trưởng của cây đàn hương trong suốt dự án này.

 

Chế phẩm sinh học của VIFARM được sinh khối và tưới cho cây đàn hương

Tại “Tết trồng cây này”, bà Nguyễn Thu Huyền – Giám đốc kinh doanh Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global cùng PGS.TS Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) đã có cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Bà Huyền mong muốn dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” sẽ được VGA quan tâm giúp đỡ, từ đó tìm được tiếng nói chung với các đơn vị tham gia VGA tương tự như VFARM, VITAD.

Bà Nguyễn Thu Huyền và ông Đặng Huy Đông chuẩn bị trồng cây đàn hương

Cũng tại đây,  bà Nguyễn Thu Huyền chia sẻ việc trồng cây đàn hương có tính lâu dài, vì vậy cần trồng thêm các loại cây xen canh sẽ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của bà con nông dân Ba Vì, đồng thời góp phần chuyển đổi xanh cho Thủ đô Hà Nội, cho đất nước Việt Nam chúng ta. Để làm được điều đó, TREEBOOM và DNCC cần sự hỗ trợ về phân bón vi sinh và chế phẩm sinh học của HTX VFARM cũng như đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp của VITAD. Đại diện của VFARM là ông Hy Thành Trung và đại diện của VITAD là TS Phạm Đình Nam đã vui vẻ đồng ý.

Đại diện của VFARM và đại diện của VITAD chụp ảnh lưu niệm cùng đại diện của TREEBOM

“Lễ trồng cây” đã diễn ra trong không khí vui tươi, thân thiện và đầy hy vọng về một dự án khả thi làm xanh đất nước đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao.

Một số hình ảnh khác của lễ hội.

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

        

TẬP HUẤN “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG THEO HỆ THỐNG KINH TẾ TUẦN HOÀN BẰNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ PHÂN BÓN SINH HỌC – CHIẾN LƯỢC MARKETING SẢN PHẨM” (Ngày thứ hai)

8 giờ sáng 13/3/2026, tại Khu Bách Lộc, cụm 12 Thọ An, xã Liên Minh, thành phố Hà Nội, HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM các học viên tiếp tục khóa tập huấn: “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”.

 

Các giảng viên tham gia giảng dạy:

– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), Điều phối khóa học.

– TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

–  TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

Khóa tập huấn là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như phương pháp sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học cùng với chiến lược marketing sản phẩm.

          Toàn cảnh ngày thứ hai khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”

Mở đầu buổi sáng, TS Dinh truy bài các học viên với câu hỏi hôm trước: “Nêu những nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ của HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM” và nhận được những câu trả lời chính xác, những giải pháp khả thi để đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại đây

Một học viên trả lời chính xác câu hỏi truy bài

Kế tiếp, TS Hạnh trình bày Tổng quan về phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học bao gồm các nội dung:

  1. Khái niệm về phân bón sinh học.
  2. Thực tiễn khách quan về các loại chế phẩm sinh học.
  3. Ứng dụng và triển vọng mang lại khi phát triển nông nghiệp bằng phân bón sinh học và chế phẩm sinh học.
  4. Ý nghĩa và định hướng tương lai.

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh trình bày Tổng quan về phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học

Buổi học kết thúc vào lúc 12h00, các học viên tham dự buổi ăn trưa và trò chuyện giao lưu tại phòng ăn bên cạnh lớp tập huấn.

Sau giờ nghỉ trưa, TS Dinh giảng dạy về Marketing sản phẩm, bao gồm các nội dung:

  1. Định vị giá trị sản phẩm
  2. Xác định khách hàng mục tiêu
  3. Xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm
  4. Truyền thông và quảng bá

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa đào tạo

Xen kẽ giữa bài giảng, TS Dinh TS Dinh và TS Hạnh đã ra một số câu hỏi tương tác với các học viên về Marketing sản phẩm và nhận được nhiều ý tưởng độc đáo, có tính khả thi cao.

Một học viên nêu ý tưởng Markerting độc đáo

Sau phần giảng dạy về Marketing sản phẩm, TS Phạm Đình Nam hướng dẫn các học viên cách ủ phân hữu cơ vi sinh từ 60-70% nguyên liệu tự nhiên, đường rỉ mật và chế phẩm sinh học VFARM. Theo ông, với nhiệt độ trung bình khoảng 25-30 độ C, độ ẩm không quá cao, chỉ cần hai lần đảo đống, với thời gian từ 10-15 ngày, chúng ta sẽ có được phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao có thể bón cho cây trồng, đóng bao cất trữ hoặc đem bán.

TS Phạm Đình Nam hướng dẫn ủ phân vi sinh

          Cuối buổi học là sự xuất hiện của GS TS Nguyễn Thị Thu Hiền, người có hơn ba mươi năm kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Tại đây GS Hiền cùng với TS Nam, TS Hạnh và TS Dinh đã lần lượt trao chứng chỉ tham gia khóa tập huấn cho các học viên và chụp ảnh lưu niệm toàn khóa.

Toàn bộ Ban tổ chức, Giảng viên và Học viên chụp ảnh kỷ niệm khóa tập huấn

 

Một số hình ảnh khác của ngày tập huấn thứ hai.

  

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

 

TẬP HUẤN “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG THEO HỆ THỐNG KINH TẾ TUẦN HOÀN BẰNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ PHÂN BÓN SINH HỌC – CHIẾN LƯỢC MARKETING SẢN PHẨM” (Ngày thứ nhất)

8 giờ sáng 12/3/2026, tại Khu Bách Lộc, cụm 12 Thọ An, xã Liên Minh, thành phố Hà Nội, HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM cùng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) phối hợp tổ chức khóa tập huấn: “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”.

 

Các đại biểu và học viên tham dự:

– Đại điện cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là ông Hy Thành Trung – Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc và bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập, đơn vị tổ chức khóa tập huấn.

– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), Điều phối khóa học.

– TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

– TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

– Cùng gần năm mươi học viên là thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, HTX Nông Nhiệp Dược Liệu Richvalley, Công Ty CP Dược Liệu Trương Dương, Liên Minh TH Global, Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global, Công ty TNHH ARBOR VITAE CO, Công Ty Cp Gạch Lego Group, Công Ty TNHH Trà Vân Bản Sen, Công ty Sơn APG cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, tiểu thương tham gia tập huấn trực tiếp.

Khóa tập huấn là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như phương pháp sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học cùng với chiến lược marketing sản phẩm.  

 Toàn cảnh ngày thứ nhất khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”

Phát biểu khai mạc khóa học, TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) đặt ra câu hỏi: “Tại sao phải làm nông nghiệp hữu cơ”, từ đó ông dẫn ra cuộc “Cách Mạng Xanh” bắt đầu từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới, bao gồm các kỹ thuật trọn gói được sử dụng nhằm tăng năng suất trên mỗi đơn vị diện tích canh tác. Tuy nhiên,  “Cách mạng xanh” – Liệu nó có xanh, khi những hậu quả đã xuất hiện sau nhiều năm sử dụng phân bón hóa học: Thoái hóa đất, Giảm đa dạng sinh học, Lạm dụng hóa chất, Ngộ độc thực  phẩm và đặc biệt là ô nhiễm môi trường. Vậy, việc làm nông nghiệp hữu cơ là hết sức bức thiết, công tác “làm xanh trở lại” đất nước không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của chúng ta. Ông hy vọng khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm” sẽ giúp cho các học viên có được những kiến thức cần thiết cho công việc nông nghiệp hữu cơ được chuẩn mực và hiệu quả, bên cạnh đó, các học viên tham gia đầy đủ khóa học sẽ được cấp chứng chỉ tham gia – chứng chỉ này bảo đảm cho bạn được công nhận là người có hiểu biết về nông nghiệp hữu cơ, thuận lợi cho việc xin cấp vốn làm “nông nghiệp xanh” và các chứng nhận liên quan như bảo hộ quyền tác giả, nhãn hiệu, logo… TS Nam cũng chúc các học viên chăm chỉ học tập và đạt được kết quả tốt nhất.

TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) phát biểu khai mạc và điều phối khóa học

Kế tiếp, TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh – chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa tập huấn – đã trình bày Tổng quan về nông nghiệp hữu cơ:

  1. Khái niệm.
  2. Nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ.
  3. Ý nghĩa và lợi ích.
  4. Cơ hội và thách thức trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn tại Việt Nam
  5. Các biện pháp quản lý đất, nước, dinh dưỡng và cây trồng trong canh tác hữu cơ.
  6. Nguyên tắc phòng trừ sâu bệnh hại trong canh tác hữu cơ.
  7. Xử lý rác thải thành đầu vào phục vụ sản xuất hữu cơ.

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa đào tạo

Ngoài ra, TS Dinh cũng đưa ra “Sơ đồ quy hoạch chức năng: Mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng”, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong NNHC theo các tiêu chí: Mục tiêu, Đầu vào, Sâu bệnh, Năng lượng và chất thải; phân tích các bước sản xuất hữu cơ theo trình tự: Lựa chọn khu vực sản xuất; lựa chọn, quản lý và sử dụng đầu vào; Kiểm soát sản xuất hữu cơ; Sơ chế – Chế biến – Bao gói – Bảo quản; Ghi nhãn.

Sơ đồ quy hoạch chức năng mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng

Buổi tập huấn đầu tiên kết thúc vào lúc 12h00, các học viên tham dự buổi ăn trưa và trò chuyện giao lưu tại phòng ăn bên cạnh lớp tập huấn.

Sau giờ nghỉ trưa, TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh – chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa tập huấn – đã giảng giải Tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận sản phẩm hữu cơ, bao gồm các nội dung:

  1. Một số tiêu chuẩn hữu cơ trên thế giới (JAS, USDA, EU).
  2. Tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất hữu cơ tại Việt Nam.
  3. Quy trình chứng nhận hữu cơ ở Việt Nam.

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh giảng giải Tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận sản phẩm hữu cơ

          Cũng trong buổi học này TS Dinh đã ra cho các học viên tham quan HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM, đồng thời ra bài tập về nhà cho các học viên: “Bạn nhận xét về những nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm nông nghiệp hữu cơ của VFARM từ các nông trại xung quanh”.

Hai giảng viên cùng các học viên tham quan HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM

Trong ngày tập huấn đầu tiên, TS Dinh và TS Hạnh đã ra một số câu hỏi tương tác với các học viên và nhận được nhiều câu trả lời thú vị.

Buổi tập huấn thứ hai kết thúc vào lúc 17h00. Nhiều học viên còn nán lại hỏi thêm các giảng viên nhiều câu hỏi liên quan đến bài học, hứa hẹn một ngày tập huấn kế tiếp sẽ rất thú vị.

Một số hình ảnh khác của ngày tập huấn đầu tiên.

 

  

 

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Tái định hình ngành lúa gạo theo hướng xanh, bền vững

Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh cơ hội tái định hình ngành lúa gạo theo hướng xanh, bền vững thông qua đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao tại ĐBSCL.

 

Ngày 8/3, tại phường Vị Thanh (TP Cần Thơ), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị sơ kết hai năm thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030.

Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An giới thiệu các sản phẩm tới Bộ trưởng Trần Đức Thắng tại hội nghị sáng ngày 8/3. Ảnh: Khương Trung.

Ông Phạm Thái Bình – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An giới thiệu các sản phẩm tới Bộ trưởng Trần Đức Thắng tại hội nghị sáng ngày 8/3. Ảnh: Khương Trung.

Phát biểu tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trịBộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết sau hơn hai giờ làm việc nghiêm túc, hội nghị đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Các đại biểu đã nghe báo cáo sơ kết hai năm triển khai đề án cùng nhiều ý kiến tâm huyết từ các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức quốc tế và các chuyên gia.

Theo Bộ trưởng, những ý kiến này cung cấp nhiều thông tin thực tiễn quan trọng, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp thiết thực cho giai đoạn tiếp theo của đề án. Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận và biểu dương sự vào cuộc tích cực của các địa phương, đơn vị, cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân trong thời gian qua.

Chuyển biến trong tư duy sản xuất lúa

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu kết luận tại hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu kết luận tại hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Theo đánh giá tại hội nghị, với cách làm bài bản, trách nhiệm và đồng bộ, đề án đã bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực. Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là sự thay đổi về nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân đối với mục tiêu phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo.

Đến nay, đề án được xác định không chỉ là chương trình phát triển sản xuất mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình cơ cấu lại ngành hàng lúa gạo vùng ĐBSCL, hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững và có trách nhiệm với môi trường.

Nông dân tại nhiều địa phương đã từng bước thay đổi tập quán canh tác truyền thống, tiếp cận và áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến như “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, nhiều mô hình quản lý nước tưới theo phương pháp ngập khô xen kẽ (AWD), sử dụng phân bón hợp lý và giảm phát thải khí nhà kính cũng được triển khai.

Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn trao đổi với Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Thành công lớn nhất của Đề án này là đem lại lợi ích to lớn cho nông dân thông qua các giải pháp về chuyển giao khoa học kỹ thuật như giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, qua đó giảm chi phí đầu vào trong sản xuất lúa, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và hiệu quả đầu ra cho nông dân. Ảnh: Khương Trung.

Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn trao đổi với Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Thành công lớn nhất của Đề án này là đem lại lợi ích to lớn cho nông dân thông qua các giải pháp về chuyển giao khoa học kỹ thuật như giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, qua đó giảm chi phí đầu vào trong sản xuất lúa, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và hiệu quả đầu ra cho nông dân. Ảnh: Khương Trung.

Một số địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp và An Giang đã chủ động nhân rộng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giúp nâng cao thu nhập cho nông dân, đồng thời góp phần giảm phát thải.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp lớn đã tham gia chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao, hỗ trợ nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, từng bước hình thành các liên kết sản xuất bền vững và minh bạch.

Theo Bộ trưởng, những kết quả bước đầu này không chỉ góp phần nâng cao giá trị ngành hàng lúa gạo mà còn phù hợp với cam kết của Việt Nam tại COP26 về mục tiêu đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050. Đồng thời, đây cũng là nền tảng để xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam theo hướng “xanh – sạch – chất lượng – bền vững”.

Tái định hình ngành lúa gạo theo hướng bền vững

 

Tuy vậy, quá trình triển khai đề án vẫn còn nhiều thách thức, đó là một số địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện; hạ tầng thủy lợi, đặc biệt là thủy lợi nội đồng, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất. Việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch cũng còn nhiều hạn chế.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, coi đây là khâu quan trọng để giảm phát thải và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, coi đây là khâu quan trọng để giảm phát thải và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, coi đây là khâu quan trọng để giảm phát thải và thúc đẩy phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Ngoài ra, năng lực tổ chức sản xuất của một số hợp tác xã và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế; nguồn lực tài chính xanh và các cơ chế hỗ trợ cho các mô hình giảm phát thải cần tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

Để đề án tiếp tục được triển khai hiệu quả và đi vào chiều sâu, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đề nghị các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan tập trung thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Trong đó, Bộ Tài chính được đề nghị phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện thủ tục trình phê duyệt dự án “Hỗ trợ hạ tầng và kỹ thuật cho lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL”, sử dụng vốn vay IBRD từ World Bank, đồng thời bố trí nguồn lực triển khai các nhiệm vụ của đề án theo Quyết định 1490/QĐ-TTg.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng trao đổi với bà Mariam Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Lào và Campuchia bên lề hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng trao đổi với bà Mariam Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Lào và Campuchia bên lề hội nghị. Ảnh: Khương Trung.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được đề nghị tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng bố trí nguồn vốn ưu đãi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Trong khi đó, Hội Nông dân Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tiếp tục đồng hành với các địa phương trong tuyên truyền, hướng dẫn nông dân tham gia đề án và thúc đẩy phát triển các hợp tác xã kiểu mới.

Đối với các địa phương, Bộ trưởng đề nghị chủ động xây dựng kế hoạch mở rộng diện tích áp dụng quy trình canh tác bền vững, phù hợp với từng vùng sinh thái; bố trí kinh phí triển khai các hoạt động từ năm 2026 để nhân rộng mô hình theo kế hoạch đã đăng ký.

Các địa phương cũng cần đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng, phát triển các mô hình tưới tiết kiệm nước như AWD, đồng thời cải thiện hạ tầng kho chứa và logistics nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân theo chuỗi giá trị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về sản xuất lúa bền vững và xử lý rơm rạ sau thu hoạch.

Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tái định hình ngành hàng lúa gạo theo hướng hiện đại, bền vững và có trách nhiệm với môi trường.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên chụp ảnh lưu niệm với các doanh nghiệp, nhà sản xuất tham gia đề án. Ảnh: Khương Trung.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên chụp ảnh lưu niệm với các doanh nghiệp, nhà sản xuất tham gia đề án. Ảnh: Khương Trung.

Ông kêu gọi các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiếp tục chung sức, đổi mới sáng tạo, quyết tâm triển khai thành công đề án, qua đó góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, nông dân giàu, nông thôn văn minh và hiện đại.

Theo nongnghiepmoitruong.vn

CÂY ĐÀN HƯƠNG – NÔNG SẢN ORGANIC CỦA TƯƠNG LAI

Sáng 6/3/2026, Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam đã kết hợp với Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global và Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM tổ chức cuộc họp triển khai dự án trồng cây đàn hương trên địa bàn Ba Vì – Hà Nội.

       Toàn cảnh cuộc họp mặt ba bên về chế phẩm sinh học cho cây đàn hương

Các đại biểu tham dự:

– Đại diện Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI) là TS Phạm Đình Nam, Viện Trưởng.

– Đại diện Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global là bà Nguyễn Thu Huyền, Giám đốc kinh doanh.

– Đại điện cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc.

– Cùng các Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành công nghệ sinh hóa và tin học của Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, các chuyên viên của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global và thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM về tham dự Cuộc họp.

Cuộc họp là sự kiện đánh dấu bước đầu trong hợp tác nghiên cứu, sản xuất và phát triển lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp số (DNCC Global) với Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam trong vai trò định hướng, đào tạo về nông nghiệp hữu cơ. 

Tiến sĩ Phạm Đình Nam – Viện Trưởng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc cuộc họp

Phát biểu khai mạc Cuộc họp. Tiến sĩ Nam cho biết, hiện nay công nghệ sinh học, trong đó đặc biệt là nghiên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh đang rất được quan tâm, vì đây là nguồn cung cấp dinh dưỡng, chăm sóc, bảo vệ cây trồng, thân thiện với môi trường, bên cạnh phân hữu cơ… Như vậy ứng dụng chế phẩm vi sinh của Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM cho nuôi trồng cây đàn hương không chỉ hữu ích cho bà con nông dân mà còn giúp cải thiện môi trường sống, đặc biệt là giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí, phù hợp với định hướng nông nghiệp hữu cơ của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global. TS Nam giới thiệu VFARM sẽ là nhà tài trợ phân bón hữu cơ để DNCC Global sử dụng cho dự án trồng cây đàn hương trong chương trình Tết trồng cây của DNCC Global sắp tới vào ngatf 14/3/2026.

Ông cũng chia sẻ những kinh nghiệm về nông nghiệp hữu cơ của Viện cũng như cá nhân ông trong gần ba mươi năm qua, chỉ ra những ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ theo Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018; Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030; các cách thức đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền tác giả, chứng nhận GlobalGAP, chứng nhận hữu cơ trong nước và quốc tế…

Bà Nguyễn Thu Huyền mong muốn được hợp tác lâu dài với VITAD và VFARM

Đáp lại, bà Nguyễn Thu Huyền rât vui khi được gặp và hợp tác cùng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam. Bà cho rằng “Khi những người tâm huyết gặp nhau, những hạt mầm lớn bắt đầu được gieo”. DNCC GLOBAL tuy mới bước vào lĩnh vực nông nghiệp chưa lâu, nhưng luôn tự tin vào tầm nhìn, chiến lược và khát vọng kiến tạo một nền nông nghiệp bền vững. Chính vì vậy, DNCC Global luôn nhận được sự ủng hộ và đồng hành từ nhiều lãnh đạo, chuyên gia đầu ngành. Bà cũng bày tỏ mong muốn được là đối tác lâu dài với Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam cũng như Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM. Cũng tại đây, bà Phượng, chánh văn phòng DNCC GLOBAL bày tỏ sự mong muốn việc trồng cây đàn hương và các loại cây xen canh sẽ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của bà con nông dân Ba Vì, đồng thời góp phần chuyển đổi xanh cho Thủ đô Hà Nội, cho đất nước Việt Nam chúng ta.

Chế phẩm sinh học SungWon được trưng bày tại Cuộc họp

 Kế tiếp, bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM trình bày cụ thể chức năng và kỹ thuật bón chế phẩm sinh học cho cây đàn hương. Theo đó, chế phẩm sinh học của Hợp tác xã được sản xuất dựa trên công nghệ độc quyền của SungWon Hàn Quốc không chỉ hiệu quả trong nuôi trồng cây ăn quả, các loại rau mà còn cải thiện môi trường rõ rệt, cải tạo, giải độc đất; giải độc khí, làm sạch hồ ao, sông suối; phân hủy rác thải; cải thiện hệ sinh vật đất, thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, làm đệm lót sinh học hay xử lý môi trường, khử mùi hôi… Chế phẩm sinh học này sinh khối lên 50 lần cho bón lót trước khi trồng (5 lít pha thành 250 lít), còn khi tưới cây tưới lá thì loãng hơn, tức là sinh khối lên 100 lần (5 lít pha thành 500 lít). Dựa vào quy trình ươm trồng cây đàn hương do Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, bà Nhàn khẳng định sự phù hợp của chế phẩm sinh học SungWon đối với loại cây này, đồng thời mời các nhân viên của DNCC GLOBAL cùng tham gia khóa học về Nông nghiệp hữu cơ tại VFARM trong 02 ngày 12 và 13/3/2026 tới đây. Bà Nguyễn Thu Huyền đã vui vẻ nhận lời.

Bà Võ Thị Thanh Nhàn đã trao tặng 02 can chế phẩm sinh học SungWon DX cho bà Nguyễn Thu Huyền

Sau cuộc thảo luận, bà Võ Thị Thanh Nhàn đã trao tặng 02 can chế phẩm sinh học SungWon DX, một loại thúc đẩy cho cây và một loại xử lý môi trường cho bà Nguyễn Thu Huyền. Ba bên cũng nhất trí sẽ lập Biên bản ghi nhớ (MOU) sự hợp tác này và các điều khoản hợp tác sẽ được thảo luận, thống nhất để cùng nhau phát triển.

Cuối cuộc họp, ba bên đã cùng nhau chụp ảnh lưu niệm tại sảnh tòa nhà 24 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

 

V Standard – Phần mềm hữu hiệu ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận Nông nghiệp hữu cơ

Sáng 13/12/2025, tại tầng 6 – số 555 Lạc Long Quân – Tây Hồ – Hà Nội, Viện Nghiên cứu ứng dụng Xử lý môi trường (IET) cùng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) và Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) phối hợp tổ chức khóa học “Giới thiệu tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về Nông nghiệp hữu cơ và hướng dẫn sử dụng phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP”.

Toàn cảnh khóa học “Giới thiệu tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về NNHC và hướng dẫn sử dụng phần mềm ghi chép V-Standard”   

Các đại biểu tham dự:

– TS Lê Văn Hưng – Đại diện Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET), chủ trì khóa học.

– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), đồng chủ trì.

– ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, quản lý chương trình chứng nhận JAS và TCVN Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học.

– ThS Đoàn Trung Dũng, quản lý chương trình chứng nhận EU chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Giảng viên.

– Cùng gần một trăm học viên là chuyên gia nông nghiệp đến từ Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), VITAD-AGRI, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, Công ty CP Đầu tư Tiến Đông cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến.

Khóa học là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu cả tiêu chuẩn về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như áp dụng phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

PGS. TS Lê Văn Hưng – Đại diện Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET), chủ trì khóa học phát biểu khai mạc khóa học

Phát biểu khai mạc khóa học. PGS.TS Lê Văn Hưng cho biết: Để phục vụ cho công tác chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ và an toàn, cần hiểu rõ về Tiêu chuẩn hữu cơ trong nước cũng như một số thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như EU hay Nhật Bản. Muốn làm được điều này, điều bức thiết là cần có một phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất. Vì vậy, Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET) đã thống nhất phối hợp của Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) về việc tổ chức khóa bồi dưỡng và giới thiệu về Tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về NNHC, sản xuất an toàn theo VietGAP và hướng dẫn sử dụng phần mềm V- Standard phục vụ cho công tác chứng nhận sản phẩm theo các tiêu chuẩn trên. Đây là dự án số hóa quản lý tiêu chuẩn nông nghiệp, hỗ trợ nông dân, HTX và các bên liên quan tuân thủ tiêu chuẩn, minh bạch truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị nông sản qua website & mobile app. Khóa học này sẽ hướng dẫn thực hành sử dụng nền tảng V-Standard (ghi chép nhật ký, quản lý hoạt động sản xuất, …) và quy trình truy xuất nguồn gốc.

ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học

Kế tiếp, ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học – đã trình bày sơ lược về chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn JAS, TCVN và giới thiệu Giảng viên của khóa học là ThS Đoàn Trung Dũng, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) bắt đầu chương trình đào tạo.

ThS Đoàn Trung Dũng – chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Giảng viên khóa học.

Trong phần đầu chương trình, ThS Dũng đã giới thiệu về các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 11041), tiêu chuẩn Nhật Bản (JAS) và quy định của EU (Reg.2018/848) về Nông nghiệp hữu cơ. Phần trình bày khá chi tiết, từ các nguyên tắc trong sản xuất cho đến các bước chính trong sản xuất NNHC. Ông đưa ra “Sơ đồ quy hoạch chức năng: Mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng”, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong NNHC theo các tiêu chí: Mục tiêu, Đầu vào, Sâu bệnh, Năng lượng và chất thải; phân tích các bước sản xuất hữu cơ theo trình tự: Lựa chọn khu vực sản xuất; lựa chọn, quản lý và sử dụng đầu vào; Kiểm soát sản xuất hữu cơ; Sơ chế – Chế biến – Bao gói – Bảo quản; Ghi nhãn.

Sơ đồ quy hoạch chức năng mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tường

Phần tiếp theo, ThS Dũng giảng giải về sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn/quy định hữu cơ. Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi nó giúp các DN, HTX nông nghiệp nắm được các yêu cầu cho sản phẩm của mình tùy theo nhu cầu phân phối trong nước hay xuất khẩu sang đất nước/khu vực nào. Sự khác biệt về: Cơ chế quản lý; Hiệu lực giấy chứng nhận; Đối tượng được chứng nhận; Vật tư đầu vào; Quá trình sản xuất; Thời gian chuyển đổi; Ghi nhãn và Bán hàng được ông phân tích và giảng dạy kỹ càng. Những điểm nổi bật nhất của sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn là: Không có cơ chế tương đương mà chỉ có thừa nhận song phương và hiệu lực giấy chứng nhận (TCVN 11041: Tối đa 02 năm; JAS: Không có thời hạn; EU: Tối đa 03 năm).

Sau khi kết thúc bài giảng về các tiêu chuẩn hữu cơ, Giảng viên khóa học – ThS Đoàn Trung Dũng đã nhận được một số góp ý và câu hỏi từ phía các học viên, trong đó hai vấn đề “nổi cộm” hiện nay. Tiến sĩ hóa hữu cơ Nguyễn Văn Ngọc – đại diện Công ty CP Đầu tư Tiến Đông (chuyên sản xuất kinh doanh phân bón hữu cơ) cho rằng việc tìm kiếm tổ chức cấp giấy chứng nhận hữu cơ khá mất thời gian, trong khi thời hạn của giấy chứng nhận chỉ là hai năm, sau hai năm phải cấp lại. Bà Võ Thị Thanh Nhàn – đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM (chuyên sản xuất kinh doanh chế phẩm sinh học và sàn phẩm nông nghiệp sạch) phản ánh tình trạng trà trộn các sản phẩm không sạch vào các sản phẩm hữu cơ gây nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và thu nhập của các DN, HTX NNHC chân chính nhưng hiện chưa có lực lượng kiểm tra xử phạt kịp thời.

ThS Dũng đã trả lời, tuy quy định thời gian hiệu lực giấy chứng nhận ở mỗi nước một khác, nhưng cả EU (Italy 03 năm, Pháp và Đức 01 năm), JAS (vô thời hạn) hay TCVN (02 năm) nhưng đều có điểm chung là yêu cầu giám sát kiểm tra sự tuân thủ hàng năm của tổ chức chứng nhận/tổ chức có thẩm quyền. Trong trường hợp vi phạm, giấy chứng nhận sẽ bị thu hồi hoặc đình chỉ ngay lập tức, bất kể thời hạn ghi trên giấy còn bao lâu. Giá trị thực sự nằm ở việc duy trì hệ thống quản lý hữu cơ hàng ngày để vượt qua các kỳ kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ hàng năm. Riêng với tiêu chuẩn JAS của Nhật Bản, tính kỷ luật trong việc duy trì hồ sơ là yếu tố sống còn của DN/HTX vì họ không dùng cơ chế hết hạn rồi cấp lại như Việt Nam hay EU.

Đối với tình trạng trà trộn các sản phẩm không sạch vào các sản phẩm hữu cơ, ThS Dũng giải thích hiện Nhà nước và các cơ quan chức năng đang tìm phương án giải pháp giảm thiểu, ngăn chặn tình trạng này và sẽ dần đưa vào luật hóa. Một trong những giải pháp là tạo ra phần mềm Vi-Standard ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP mà chúng ta sẽ được cài đặt và hướng dẫn sử dụng sau giờ giải lao.         

TS Phạm Đình Nam giới thiệu về mô hình Nông nghiệp công nghệ cao Hikari Đà Lạt

Sau giờ giải lao, TS Phạm Đình Nam dành ít phút giới thiệu về mô hình Nông nghiệp công nghệ cao Hikari Đà Lạt với nhà máy chế xuất lớn thứ ba Đông Nam Á và vùng trồng lên tới 250ha, trong đó có sản phẩm thạch rau quả chính là đồ ăn nhẹ mà các học viên được thưởng thức trong giờ giải lao. Theo ông, những tập đoàn nông nghiệp lớn như Hikari sẽ rất cần một phầm mềm quản lý tiêu chuẩn nông nghiệp, hỗ trợ nông dân, HTX và các bên liên quan tuân thủ tiêu chuẩn, minh bạch truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị nông sản như V-Standard.

Hoàn toàn nhất trí với ý kiến của TS Nam, Giảng viên khóa học – Ths Dũng dẫn bài học sang phần hai: Hướng dẫn sử dụng V-Standard – phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP:

– Bước 1, cài đặt phần mềm V-Standard thông qua mã QR hoặc đường link https://onelink.to/zhwysm .

– Bước 2, đăng ký tài khoản, người sử dụng cần đăng ký các thông tin theo bảng, trong đó các thông tin đánh dấu * không được để trống.

– Bước 3, đăng nhập tài khoản đã đăng ký.

– Các bước tiếp theo được thực hiện thông qua giao diện tương đối dễ dàng nhập liệu: Xem tiêu chuẩn, Ghi nhật ký; Quản lý; Hồ sơ cá nhân. Các mục này được phân nhánh rất dễ sử dụng, cập nhật.

ThS Dũng vừa giảng giải, hướng dẫn vừa cho các học viên trực tiếp và học viên online cài đặt và sử dụng thử phần mềm này.

Giao diện trang chính của phần mềm

Do thời lượng có hạn, buổi học kết thúc vào lúc 11h45’, sau khi tất cả các học viên đều tải xong phần mềm V-Standard, cài đặt, đăng ký tài khoản, đăng nhập thành công và sử dụng sơ bộ một số hạng mục chính của phần mềm, thực hiện phiếu điều tra về trải nghiệm phần mềm này.

Các thành viên tham dự trực tiếp chụp ảnh lưu niệm cuối buổi học

Sau buổi học, các thành viên tham dự trực tiếp buổi học đã ngồi lại cùng nhau thảo luận thêm về buổi học. Có một vài ý kiến cho rằng phần mềm V-Standard dễ sử dụng và đặc biệt hữu ích ở phần thư viện các tiêu chuẩn, thuận tiện cho tra cứu, nhất là các phần tiêu chuẩn/quy định của nước ngoài như EU, JAS đều đã được dịch sang Tiếng Việt; tuy nhiên giao diện chưa được bắt mắt và hơi nhiều bước thao tác, có thể gây ra thiếu sót hoặc lỗi. ThS Dũng và ThS Xuân rất vui và mong nhận được những góp ý giúp QUACERT sớm hoàn thiện phần mềm này. Ban tổ chức khóa học đề xuất tổ chức những cuộc hội thảo liên quan đến NNHC và các phần mềm ứng dụng hiện đại phù hợp với ngành nghề này trong tương lai, đồng thời cũng mong muốn sẽ có thêm buổi bồi dưỡng tương tự trong thời gian tới nhằm phổ biến kiến thức liên quan đến NNHC và sớm đưa phần mềm V-Standard sau khi hoàn thiện vào áp dụng hiệu quả tại đơn vị chủ quản của các học viên tham gia cũng như các DN, HTX nông nghiệp khác trên toàn quốc.

Dưới đây là một số hình ảnh khác của buổi học.

 

  

  

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

Copyrights © 2019 VITAD-AGRI All Rights Reserved.

X