V Standard – Phần mềm hữu hiệu ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận Nông nghiệp hữu cơ
Sáng 13/12/2025, tại tầng 6 – số 555 Lạc Long Quân – Tây Hồ – Hà Nội, Viện Nghiên cứu ứng dụng Xử lý môi trường (IET) cùng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) và Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) phối hợp tổ chức khóa học “Giới thiệu tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về Nông nghiệp hữu cơ và hướng dẫn sử dụng phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP”.

Toàn cảnh khóa học “Giới thiệu tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về NNHC và hướng dẫn sử dụng phần mềm ghi chép V-Standard”
Các đại biểu tham dự:
– TS Lê Văn Hưng – Đại diện Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET), chủ trì khóa học.
– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), đồng chủ trì.
– ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, quản lý chương trình chứng nhận JAS và TCVN Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học.
– ThS Đoàn Trung Dũng, quản lý chương trình chứng nhận EU chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Giảng viên.
– Cùng gần một trăm học viên là chuyên gia nông nghiệp đến từ Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), VITAD-AGRI, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, Công ty CP Đầu tư Tiến Đông cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến.
Khóa học là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu cả tiêu chuẩn về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như áp dụng phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

PGS. TS Lê Văn Hưng – Đại diện Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET), chủ trì khóa học phát biểu khai mạc khóa học
Phát biểu khai mạc khóa học. PGS.TS Lê Văn Hưng cho biết: Để phục vụ cho công tác chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ và an toàn, cần hiểu rõ về Tiêu chuẩn hữu cơ trong nước cũng như một số thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như EU hay Nhật Bản. Muốn làm được điều này, điều bức thiết là cần có một phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất. Vì vậy, Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET) đã thống nhất phối hợp của Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) về việc tổ chức khóa bồi dưỡng và giới thiệu về Tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về NNHC, sản xuất an toàn theo VietGAP và hướng dẫn sử dụng phần mềm V- Standard phục vụ cho công tác chứng nhận sản phẩm theo các tiêu chuẩn trên. Đây là dự án số hóa quản lý tiêu chuẩn nông nghiệp, hỗ trợ nông dân, HTX và các bên liên quan tuân thủ tiêu chuẩn, minh bạch truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị nông sản qua website & mobile app. Khóa học này sẽ hướng dẫn thực hành sử dụng nền tảng V-Standard (ghi chép nhật ký, quản lý hoạt động sản xuất, …) và quy trình truy xuất nguồn gốc.

ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học
Kế tiếp, ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học – đã trình bày sơ lược về chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn JAS, TCVN và giới thiệu Giảng viên của khóa học là ThS Đoàn Trung Dũng, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) bắt đầu chương trình đào tạo.

ThS Đoàn Trung Dũng – chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Giảng viên khóa học.
Trong phần đầu chương trình, ThS Dũng đã giới thiệu về các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 11041), tiêu chuẩn Nhật Bản (JAS) và quy định của EU (Reg.2018/848) về Nông nghiệp hữu cơ. Phần trình bày khá chi tiết, từ các nguyên tắc trong sản xuất cho đến các bước chính trong sản xuất NNHC. Ông đưa ra “Sơ đồ quy hoạch chức năng: Mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng”, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong NNHC theo các tiêu chí: Mục tiêu, Đầu vào, Sâu bệnh, Năng lượng và chất thải; phân tích các bước sản xuất hữu cơ theo trình tự: Lựa chọn khu vực sản xuất; lựa chọn, quản lý và sử dụng đầu vào; Kiểm soát sản xuất hữu cơ; Sơ chế – Chế biến – Bao gói – Bảo quản; Ghi nhãn.

Sơ đồ quy hoạch chức năng mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tường
Phần tiếp theo, ThS Dũng giảng giải về sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn/quy định hữu cơ. Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi nó giúp các DN, HTX nông nghiệp nắm được các yêu cầu cho sản phẩm của mình tùy theo nhu cầu phân phối trong nước hay xuất khẩu sang đất nước/khu vực nào. Sự khác biệt về: Cơ chế quản lý; Hiệu lực giấy chứng nhận; Đối tượng được chứng nhận; Vật tư đầu vào; Quá trình sản xuất; Thời gian chuyển đổi; Ghi nhãn và Bán hàng được ông phân tích và giảng dạy kỹ càng. Những điểm nổi bật nhất của sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn là: Không có cơ chế tương đương mà chỉ có thừa nhận song phương và hiệu lực giấy chứng nhận (TCVN 11041: Tối đa 02 năm; JAS: Không có thời hạn; EU: Tối đa 03 năm).
Sau khi kết thúc bài giảng về các tiêu chuẩn hữu cơ, Giảng viên khóa học – ThS Đoàn Trung Dũng đã nhận được một số góp ý và câu hỏi từ phía các học viên, trong đó hai vấn đề “nổi cộm” hiện nay. Tiến sĩ hóa hữu cơ Nguyễn Văn Ngọc – đại diện Công ty CP Đầu tư Tiến Đông (chuyên sản xuất kinh doanh phân bón hữu cơ) cho rằng việc tìm kiếm tổ chức cấp giấy chứng nhận hữu cơ khá mất thời gian, trong khi thời hạn của giấy chứng nhận chỉ là hai năm, sau hai năm phải cấp lại. Bà Võ Thị Thanh Nhàn – đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM (chuyên sản xuất kinh doanh chế phẩm sinh học và sàn phẩm nông nghiệp sạch) phản ánh tình trạng trà trộn các sản phẩm không sạch vào các sản phẩm hữu cơ gây nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và thu nhập của các DN, HTX NNHC chân chính nhưng hiện chưa có lực lượng kiểm tra xử phạt kịp thời.
ThS Dũng đã trả lời, tuy quy định thời gian hiệu lực giấy chứng nhận ở mỗi nước một khác, nhưng cả EU (Italy 03 năm, Pháp và Đức 01 năm), JAS (vô thời hạn) hay TCVN (02 năm) nhưng đều có điểm chung là yêu cầu giám sát kiểm tra sự tuân thủ hàng năm của tổ chức chứng nhận/tổ chức có thẩm quyền. Trong trường hợp vi phạm, giấy chứng nhận sẽ bị thu hồi hoặc đình chỉ ngay lập tức, bất kể thời hạn ghi trên giấy còn bao lâu. Giá trị thực sự nằm ở việc duy trì hệ thống quản lý hữu cơ hàng ngày để vượt qua các kỳ kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ hàng năm. Riêng với tiêu chuẩn JAS của Nhật Bản, tính kỷ luật trong việc duy trì hồ sơ là yếu tố sống còn của DN/HTX vì họ không dùng cơ chế hết hạn rồi cấp lại như Việt Nam hay EU.
Đối với tình trạng trà trộn các sản phẩm không sạch vào các sản phẩm hữu cơ, ThS Dũng giải thích hiện Nhà nước và các cơ quan chức năng đang tìm phương án giải pháp giảm thiểu, ngăn chặn tình trạng này và sẽ dần đưa vào luật hóa. Một trong những giải pháp là tạo ra phần mềm Vi-Standard ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP mà chúng ta sẽ được cài đặt và hướng dẫn sử dụng sau giờ giải lao.

TS Phạm Đình Nam giới thiệu về mô hình Nông nghiệp công nghệ cao Hikari Đà Lạt
Sau giờ giải lao, TS Phạm Đình Nam dành ít phút giới thiệu về mô hình Nông nghiệp công nghệ cao Hikari Đà Lạt với nhà máy chế xuất lớn thứ ba Đông Nam Á và vùng trồng lên tới 250ha, trong đó có sản phẩm thạch rau quả chính là đồ ăn nhẹ mà các học viên được thưởng thức trong giờ giải lao. Theo ông, những tập đoàn nông nghiệp lớn như Hikari sẽ rất cần một phầm mềm quản lý tiêu chuẩn nông nghiệp, hỗ trợ nông dân, HTX và các bên liên quan tuân thủ tiêu chuẩn, minh bạch truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị nông sản như V-Standard.
Hoàn toàn nhất trí với ý kiến của TS Nam, Giảng viên khóa học – Ths Dũng dẫn bài học sang phần hai: Hướng dẫn sử dụng V-Standard – phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP:
– Bước 1, cài đặt phần mềm V-Standard thông qua mã QR hoặc đường link https://onelink.to/zhwysm .
– Bước 2, đăng ký tài khoản, người sử dụng cần đăng ký các thông tin theo bảng, trong đó các thông tin đánh dấu * không được để trống.
– Bước 3, đăng nhập tài khoản đã đăng ký.
– Các bước tiếp theo được thực hiện thông qua giao diện tương đối dễ dàng nhập liệu: Xem tiêu chuẩn, Ghi nhật ký; Quản lý; Hồ sơ cá nhân. Các mục này được phân nhánh rất dễ sử dụng, cập nhật.
ThS Dũng vừa giảng giải, hướng dẫn vừa cho các học viên trực tiếp và học viên online cài đặt và sử dụng thử phần mềm này.

Giao diện trang chính của phần mềm
Do thời lượng có hạn, buổi học kết thúc vào lúc 11h45’, sau khi tất cả các học viên đều tải xong phần mềm V-Standard, cài đặt, đăng ký tài khoản, đăng nhập thành công và sử dụng sơ bộ một số hạng mục chính của phần mềm, thực hiện phiếu điều tra về trải nghiệm phần mềm này.

Các thành viên tham dự trực tiếp chụp ảnh lưu niệm cuối buổi học
Sau buổi học, các thành viên tham dự trực tiếp buổi học đã ngồi lại cùng nhau thảo luận thêm về buổi học. Có một vài ý kiến cho rằng phần mềm V-Standard dễ sử dụng và đặc biệt hữu ích ở phần thư viện các tiêu chuẩn, thuận tiện cho tra cứu, nhất là các phần tiêu chuẩn/quy định của nước ngoài như EU, JAS đều đã được dịch sang Tiếng Việt; tuy nhiên giao diện chưa được bắt mắt và hơi nhiều bước thao tác, có thể gây ra thiếu sót hoặc lỗi. ThS Dũng và ThS Xuân rất vui và mong nhận được những góp ý giúp QUACERT sớm hoàn thiện phần mềm này. Ban tổ chức khóa học đề xuất tổ chức những cuộc hội thảo liên quan đến NNHC và các phần mềm ứng dụng hiện đại phù hợp với ngành nghề này trong tương lai, đồng thời cũng mong muốn sẽ có thêm buổi bồi dưỡng tương tự trong thời gian tới nhằm phổ biến kiến thức liên quan đến NNHC và sớm đưa phần mềm V-Standard sau khi hoàn thiện vào áp dụng hiệu quả tại đơn vị chủ quản của các học viên tham gia cũng như các DN, HTX nông nghiệp khác trên toàn quốc.
Dưới đây là một số hình ảnh khác của buổi học.



Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)
Hội nghị gặp gỡ, chia sẻ thông tin về khoa học công nghệ, sản phẩm phục vụ phát triển ngành nông nghiệp giữa các doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam (p2)
Tại phần hai Hội nghị này, nhiều công ty công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến của Hàn Quốc và Việt Nam đã ký kết với nhau những hợp đồng thương mại quan trọng.

Toàn cảnh phần hai “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025”
Ngày 27/11, Cơ quan Xúc tiến Công nghệ nông nghiệp Hàn Quốc (KOAT) tiếp tục tổ chức phần hai “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025” tại khách sạn Grand Plaza, số 117 Trần Duy Hưng, Hà Nội. Tại đây 12 công ty công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến của Hàn Quốc đã trình bày vắn tắt các công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến, bao gồm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương Việt Nam. Từ đây, một số công ty đã nhận được các đơn đặt hàng từ phía Việt Nam cũng như một số thỏa thuận hợp tác về chuyển giao công nghệ và thương mại với đối tác Việt Nam.
Dưới đây là một số hình ảnh của phần hai “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025” tại khách sạn Grand Plaza.




Thực hiện: Thành Vinh
CHẾ PHẨM SINH HỌC SUNGWON – VFARM, GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO CÂY TRỒNG VẬT NUÔI VÀ MÔI TRƯỜNG
Sáng 6/12/2025, Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và đã phối hợp cùng Công ty SungWon Hàn Quốc tổ chức Hội thảo khoa học về công nghệ sinh học và ra mắt chế phẩm sinh học Sungwon ở xã Liên Minh, thành phố Hà Nội.

Toàn cảnh Hội thảo thảo khoa học về công nghệ sinh học và ra mắt chế phẩm sinh học Sungwon (Hàn Quốc)
Các đại biểu tham dự:
- Đại diện cấp trung ương là ông Đặng Văn Cường, Cục chất lượng, chế biến và Phát triển thị trường – Bộ Nông nghiệp và Môi Trường;
- Đại diện thành phố Hà Nội là ông Trần Sỹ Tiến, Phó chi cục trưởng chi cục trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú ý và thủy sản;
- Đại diện chính quyền địa phương là ông Nguyễn Quý Mạnh, chủ tịch xã Liên Minh;
- Đại diện cho Công ty SungWon Hàn Quốc là Ông Kwon Yu, Tổng giám đốc.
- Đại điện cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là ông Hy Thành Trung Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc và Bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập.
- Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh hóa và môi trường của các Viện thuộc chuyên ngành nông nghiệp, các trường Đại học Thủy Lợi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật và Thủy sản Từ Sơn – Bắc Ninh….
- Cùng các khách hàng rải khắp 3 miền Nam, Trung, Bắc cũng về tham dự Hội thảo.
Hội thảo là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong hợp tác nghiên cứu, sản xuất và phát triển lĩnh vực công nghệ sinh học giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao trong nước (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ngoài (SungWon Hàn Quốc).

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Giảng viên cao cấp của Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc và điều hành Hội thảo
Phát biểu khai mạc Hội Thảo. Tiến sĩ Hạnh cho biết, hiện nay công nghệ sinh học, trong đó đặc biệt là nghiên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh đang rất được quan tâm, vì đây là nguồn cung cấp dinh dưỡng, chăm sóc, bảo vệ cây trồng, thân thiện với môi trường, bên cạnh phân hữu cơ. Ngoài ra các chế phẩm sinh học còn có khả năng cải tạo, giải độc đất; giải độc khí, làm sạch hồ ao, sông suối; phân hủy rác thải; cải thiện hệ sinh vật đất, thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, làm đệm lót sinh học hay xử lý môi trường, khử mùi hôi… Như vậy ứng dụng chế phẩm vi sinh rất phong phú, đa dạng, không chỉ hữu ích cho bà con nông dân mà còn giúp cải thiện môi trường sống, đặc biệt là giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí.

Một số chế phẩm sinh học được trưng bày tại Hội thảo
Phát biểu chào mừng Hội thảo, đại diện của cho Công ty SungWon Hàn Quốc là ông Kwon Yu, Tổng giám đốc cho biết, trong những năm qua, mối quan hệ hợp tác giữa Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và đã phối hợp cùng Công ty SungWon Hàn Quốc đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Từ những cuộc trao đổi học thuật, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đến các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hai bên đã cùng nhau xây dựng nền tảng cho hệ sinh thái tuyệt vời dựa trên lợi thế bản địa, nguồn dược liệu quý hiếm, đa dạng sinh học phong phú và tinh thần phát triển công nghệ xanh.

Ông Kwon Yu, Tổng giám đốc Công ty SungWon Hàn Quốc đánh giá cao sự hợp tác thân thiện của Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM
Cũng trong Hội thảo này, ông Choi Jin Young – Giám đốc truyền thông Công ty SungWon Hàn Quốc đã giới thiệu về chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc và khả năng ứng dụng trong phát triển nông nghiệp xanh và xử lý môi trường ở Việt Nam; cơ sở pháp lý và công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc; một số kết quả ban đầu khi sử dụng Chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc trong việc xử lý môi trường tại xã Liên Minh, thành phố Hà Nội. Ông nhấn mạnh: Hội thảo lần này tiếp tục là cầu nối thúc đẩy chương trình nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học tiên tiến, hỗ trợ ươm tạo cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM nuôi trồng và thương mại hoá các giải pháp công nghệ sinh học hiện đại, góp phần nâng cao vị thế của Hợp tác xã nói riêng, xã Liên Minh – thành phố Hà Nội nói chung trên bản đồ khoa học công nghệ của Việt Nam và thế giới. Hai nước Việt Nam và Hàn Quốc chúng ta có những đặc điểm tương đồng về địa lý, khí hậu, môi trường và thậm chí cả nền văn hóa, do vậy sự hợp tác giữa SungWon và VFARM ắt hẳn tạo nên “hoa thơm trái ngọt” và thực tế những năm qua đã diễn ra tốt đẹp như vậy.

Ông Choi Jin Young – Giám đốc truyền thông Công ty SungWon Hàn Quốc công bố ra mắt chính thức chế phẩm vi sinh Sungwon DX – Hàn Quốc tại Việt Nam
Sau lời công bố ra mắt chính thức chế phẩm sinh học, SungWon và VFARM đã chính thức ký kết hợp đồng hợp tác toàn diện sản xuất và ứng dụng sản phẩm này cho Hợp tác xã, cho toàn xã Liên Minh và tiến tới mở rộng phạm vi thành phố Hà Nội, trong nước và xuất khẩu.

Ông Kwon Yu, Tổng giám đốc Công ty SungWon Hàn Quốc và ông Hy Thành Trung – Chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM ký kết hợp đồng hợp tác toàn diện
Cũng tại Hội thảo này, ông Hy Thành Trung đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM đã ký kết hợp đồng đại lý với bà Phan Thị Đoan Trang. Những đại lý như của bà Trang sẽ là cánh tay nối dài cho VFARM trong hành trình chinh phục thị trường chế phẩm sinh học trong nước.

Ông Hy Thành Trung và bà Phan Thị Đoan Trang ký kết hợp đồng đại lý
Tại Hội thảo, năm tham luận đã được trình bày, đó là những kinh nghiệm đúc rút từ trải nghiệm thực tiễn, những kiến thức chứa đựng hàm lượng khoa học cao. Cụ thể, các tham luận của lãnh đạo xã Liên Minh và các hộ nông dân ở đây đã khẳng định hiệu quả của chế phẩm sinh học trong nuôi trồng cây ăn quả, các loại rau và nhất là sự cải thiện môi trường rõ rệt, trong đó đặc biệt đánh giá cao hiệu quả xử lý mùi kênh sông Hát bằng chế phẩm vi sinh SungWon DX, bày tỏ nguyện vọng được sử dụng sản phẩm này thường xuyên. Sau đó là phần trình bày của PGS.TS. Đặng Thị Thanh Lê – giảng viên bộ môn kỹ thuật hóa học – Đại Học Thủy Lợi về ý nghĩa của việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa hóa và môi trường; ông Trương Quang Anh – Phó giám đốc Trung tâm khảo kiểm nghiệm phân bón quốc gia chia sẻ về chế phẩm vi sinh và ông Hy Thành Trung trình bày quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh SungWon của Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM.
Kế tiếp là phần hỏi đáp diễn ra sôi nổi với những câu hỏi thú vị liên quan đến bao bì sản phẩm, cách vận chuyển chế phẩm sinh học lên vùng cao và những lợi thế của sự hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước Hàn Quốc – Việt Nam để tối ưu hóa chất lượng sản phẩm và tạo nên một giá thành hợp lý. Những vấn đề pháp lý và quy định của Việt Nam khi sử dụng Chế phẩm sinh học SungWon Hàn Quốc cũng được thảo luận tại đây. Những câu hỏi – đáp giữa các nhà khoa học Việt Nam, các chuyên gia Hàn Quốc và những người quan tâm đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về giá trị cốt lõi của chế phẩm sinh học, tính ứng dụng của sản phẩm này lên thực vật, cây dược liệu, đất đai, môi trường… đã tạo nên không khí sinh hoạt học thuật thật sự.
Các chuyên gia Hàn Quốc và các nhà khoa học Việt Nam trả lời câu hỏi của người quan tâm đến chế phẩm sinh học
Nhân dịp này, những người tham gia Hội thảo cũng có dịp tham quan, khảo sát các vườn cây ăn quả tuyệt vời tại đây – nơi mà ứng dụng chế phẩm sinh học đạt hiệu quả rõ nét, chân thật nhất.
Hội thảo mở ra một bước tiến mới cho hợp tác khoa học không chỉ giữa SungWon và VFARM mà còn là tiền đề cho các đơn vị sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tạo nhiều cơ hội kết nối trong nghiên cứu, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ sinh thái kinh tế sinh học quốc tế gắn với thành phố Hà Nội. Đồng thời phát huy nguồn tài nguyên thực vật và các loài cây dược liệu, chẳng hạn sâm bố chính, hồng sâm Hàn Quốc, từng bước khẳng định vị thế ngành công nghệ sinh học như một trụ cột thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, bền vững cho Thủ đô nước ta.
Dưới đây là một số hình ảnh khác của Hội thảo.













Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)
Hội nghị gặp gỡ, chia sẻ thông tin về khoa học công nghệ, sản phẩm phục vụ phát triển ngành nông nghiệp giữa các doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam (p1)
Tại Hội nghị này, nhiều công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến của Hàn Quốc và Việt Nam được chia sẻ nhằm thúc đẩy giao thương, kết nối Công nghệ nông nghiệp giữa hai nước.
Ngày 26/11, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) phối hợp với Cơ quan Xúc tiến Công nghệ nông nghiệp Hàn Quốc (KOAT) tổ chức “Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025”.
Toàn cảnh Hội thảo Giới thiệu và Thúc đẩy giao thương, Kết nối Công nghệ nông nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 2025
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc VAAS nhấn mạnh, Hàn Quốc là thị trường quan trọng của nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam như thủy sản, trái cây, các gia vị (tiêu, ớt), đồ uống (café, trà mát cha), lương thực (gạo, mỳ) và sản phẩm gỗ. Các sản phẩm nông nghiệp, vật tư, thiết bị canh tác và công nghệ tiên tiến của Hàn Quốc ngày càng được doanh nghiệp và nông dân Việt Nam quan tâm, ưa chuộng. Hai nước cũng đã triển khai nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu, phát triển giống, công nghệ sau thu hoạch, cơ giới hóa, nông nghiệp thông minh, công nghệ sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững của nông nghiệp Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Hồng Sơn cho biết: “Hội thảo này tập trung trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu của Việt Nam và các cơ quan, doanh nghiệp nông nghiệp Hàn Quốc; chia sẻ kết quả thử nghiệm thực tế tại Việt Nam đối với một số sản phẩm vật tư nông nghiệp của Hàn Quốc. Các công nghệ và sản phẩm nghiên cứu mới như: Chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh, vi sinh vật xử lý môi trường, phân bón hữu cơ – vi sinh, hệ thống tưới tự động và vật tư phục vụ nhà lưới, nhà kính sẽ được giới thiệu đến doanh nghiệp Việt. Bên cạnh đó, thông tin về điều kiện xuất – nhập khẩu công nghệ, vật tư và sản phẩm nông nghiệp giữa hai nước cũng sẽ được thảo luận chi tiết để thúc đẩy giao thương và mở rộng hợp tác giữa các bên”.

GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc VAAS khai mạc Hội thảo
Cũng tại Hội thảo, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật khẳng định, hội thảo là bước chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của nông nghiệp Việt Nam – nơi khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế trở thành động lực trung tâm. Ông nói: “Với sự tham gia tích cực của Bộ, các cơ quan, đơn vị, viện trường trực thuộc, cùng doanh nghiệp hai nước cộng đồng khoa học và nhà đầu tư, tôi tin rằng chúng ta sẽ xác định được các lĩnh vực ưu tiên kết nối công nghệ như giống cây trồng; vật tư nông nghiệp (phân bón hữu cơ – vi sinh, thuốc BVTV sinh học, chế phẩm xử lý); nông nghiệp thông minh; công nghệ sau thu hoạch, chế biến và bảo quản; và kinh tế tuần hoàn nông nghiệp. Đồng thời, mở ra các cơ hội giao thương mới cho các mặt hàng nông sản chủ lực và gợi mở những sáng kiến hợp tác dài hạn về đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu chung, xây dựng phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo liên kết Việt Nam – Hàn Quốc”.

Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phat biểu tại Hội thảo
Theo ông Ko Bok Nam, Giám đốc KOAT, từ năm 2020, VAAS và Viện Nông nghiệp Hàn Quốc (RDA) đã phối hợp xây dựng các nhà kính thí điểm theo mô hình Smart Farm. Từ nền tảng hợp tác này, RDA không chỉ tập trung vào công nghệ nông nghiệp thông minh mà còn triển khai Dự án Testbed tại Việt Nam nhằm kiểm chứng hiệu quả thiết bị nông nghiệp của Hàn Quốc. Dự án được thực hiện cùng Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam (FAVRI) và Viện Kiểm định Phân bón Quốc gia (NCFT), mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng hơn giữa hai nước trong lĩnh vực nông nghiệp.
Ông Ko Bok Nam kỳ vọng thông qua hội thảo lần này, hai bên sẽ chia sẻ những kết quả đã đạt được và cùng tìm ra các hướng hợp tác mới, hướng tới phát triển bền vững.

Ông Ko Bok Nam, Giám đốc KOAT hy vọng hai nước Hàn Quốc, Việt Nam sớm chia sẻ những thành quả hợp tác đã đạt được.
Tại hội thảo, 12 doanh nghiệp Hàn Quốc đã giới thiệu các công nghệ và sản phẩm nông nghiệp tiên tiến, bao gồm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương Việt Nam. Sự kiện cũng diễn ra lễ ký biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác giữa Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) với Bioplan Co., Ltd.; Công ty CP Thương mại Hải Ánh và Hyunnong Co., Ltd.

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và Bioplan Co., Ltd. kí biên bản ghi nhớ (MOU).
Phát biểu tổng kết Hội thảo, phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương đánh giá cao việc các đại biểu, chuyên gia và doanh nghiệp chia sẻ thẳng thắn, trao đổi cởi mở, tập trung vào những vấn đề thực tiễn, các công nghệ, mô hình, dự án có thể triển khai ngay hoặc trong tương lai gần và hy vọng thúc đẩy giao thương, kết nối Công nghệ nông nghiệp giữa hai nước Hàn Quốc và Việt sẽ được nâng lên tầm cao mới trong tương lai gần.
Một số hình ảnh khác của Hội thảo.

Thực hiện: Thành Vinh
Có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp
Cử tri tỉnh Hưng Yên kiến nghị có chính sách gắn kết giữa nông dân với doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tạo sự đồng bộ trong liên kết sản xuất với tiêu thụ.
Khuyến nông dẫn dắt phát triển bền vững cây trồng chủ lực vùng Tây Nguyên
Nhiều hộ thoát nghèo nhờ 2 con bò giống của dự án liên kết
Tập huấn tổ chức liên kết sản xuất, phát triển chuỗi giá trị nông sản
Hình thành hàng nghìn mô hình liên kết gắn với vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn
Trả lời kiến nghị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện nay, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm trực tiếp hỗ trợ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu như: Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Đề án “Thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025” theo Quyết định số 1088/QĐ-BNN-KTHT ngày 25/3/2022; Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện nay, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm trực tiếp hỗ trợ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xây dựng vùng nguyên liệu gắn mã số vùng trồng, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc để phục vụ xuất khẩu; thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội nghị kết nối cung – cầu nông sản, hội chợ xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, tạo cầu nối trực tiếp giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp xuất khẩu.
Đồng thời, phối hợp các Bộ, ngành tháo gỡ rào cản kỹ thuật, mở cửa thị trường cho nông sản Việt Nam; thường xuyên cập nhật thông tin về nhu cầu, thị hiếu và phổ biến quy định về thị trường trong và ngoài nước; tổ chức các hội thảo tập huấn kỹ năng khai thác, tìm kiếm, dự báo thông tin thị trường, kết nối giữa sản xuất, tiêu thụ.
Đến nay, hàng nghìn mô hình liên kết đã được hình thành gắn với phát triển và mở rộng các vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tính đến hết tháng 6 năm 2025, các địa phương đã phê duyệt được 2.938 dự án, kế hoạch liên kết cho 119 sản phẩm nông nghiệp chủ lực, trong đó có 13 loại sản phẩm thuộc chủ lực quốc gia và 106 sản phẩm đặc trưng, lợi thế của địa phương; có 2.412 hợp tác xã, 538 tổ hợp tác, 1.305 doanh nghiệp và 211.545 hộ nông dân tham gia các chuỗi liên kết.
Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng nông sản, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, nhiều sản phẩm đã vào được thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ.
Tuy vậy, một số liên kết còn chưa bền vững, quy mô liên kết còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa tạo được ảnh hưởng thực sự đến thị trường tiêu thụ. Nông dân còn thiếu thông tin về thị trường và các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn hàng hóa ở các thị trường quốc tế khác nhau. Vai trò trung tâm trong chuỗi liên kết của các hợp tác xã nông nghiệp chưa phát huy hiệu quả, do năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh còn hạn chế, thiếu vốn, thiếu hạ tầng và công nghệ phục vụ bảo quản, chế biến và logistics.
Đề xuất tăng hỗ trợ đầu tư vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn
Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển hợp tác, liên kết bền vững giữa nông dân, hợp tác xã và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu, trong đó có việc tổng kết, kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 98/2018/NĐ-CP theo hướng tăng hỗ trợ đầu tư vùng nguyên liệu nông sản đạt chuẩn; có cơ chế tín dụng hỗ trợ theo chuỗi giá trị; thúc đẩy truy xuất, mã số vùng trồng; hỗ trợ bảo hiểm và chia sẻ rủi ro trong hợp đồng liên kết.

Việc liên kết sản xuất giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp giúp nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích. Ảnh: Quốc Toản.
Đồng thời đẩy mạnh đào tạo, thông tin thị trường và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người sản xuất; tiếp tục hỗ trợ phát triển hợp tác xã, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào bảo quản chế biến nông sản và logistics, thúc đẩy chuyển đổi số và áp dụng truy xuất nguồn gốc, qua đó tạo sự gắn kết chặt chẽ, đồng bộ và bền vững giữa nông dân với doanh nghiệp xuất khẩu.
Trường An
Theo nongnghiepmoitruong.vn/
DIỄN ĐÀN CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NÔNG NGHIỆP: NẮM BẮT CƠ HỘI, THÍCH ỨNG TƯƠNG LAI
7h30 sáng nay (29/10), Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức “Chuyển đổi số trong nông nghiệp – nắm bắt cơ hội, thích ứng tương lai”, thảo luận và nhận góp ý về công tác này từ các chuyên gia, các nhà khoa học và các doanh nghiệp trong cả nước.
Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chủ trì Diễn đàn. Bàn chủ tịch còn có ông Trần Duy Ninh, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia – Bộ Khoa học và Công nghệ cùng ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Cùng tham dự có các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường như Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Biến đổi khí hậu, Vụ Khoa học và Công nghệ, các Viện nghiên cứu nông nghiệp, Hiệp hội chuyển đổi xanh VGA, các nhà khoa học, Tạp chí kinh doanh, các nhà báo, đại diện các Hợp tác xã các tỉnh, thành trên cả nước. TS Phạm Đình Nam, Viện trưởng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam cùng một số chuyên gia của Viện cũng tham gia diễn đàn này.
Phát biểu khai mạc, Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nhiệt liệt chào mừng quý vị đại biểu đã đến tham dự Diễn đàn. Bà cho biết: Một cuộc khảo sát gần đây của Liên minh HTX Việt Nam cho thấy mức độ chuyển đổi số của HTX cả nước mới chỉ đạt 32%. Trong số gần 35.000 HTX thì chỉ có 13,6% HTX đã hoàn tất chuyển đổi số, 50% đang triển khai và 36,4% chưa thực hiện. Như vậy, một rào cản vô hình là vẫn còn nhiều HTX và các nông hộ hiểu chưa đúng bản chất của chuyển đổi số. Và một hiểu lầm phổ biến là đồng nhất chuyển đổi số với việc chạy theo những công nghệ “hào nhoáng” như Trí tuệ nhân tạo (AI), Công nghệ chuỗi khối (blockchain), dữ liệu lớn (Big Data) hay Internet vạn vật kết nối (IoT). Bởi thế HTX và người nông dân cần nâng cao năng lực số trong các hoạt động cốt lõi như: Sản xuất, quản lý, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin, giám sát chất lượng nông sản, giảm phát thải và ô nhiễm môi trường, cũng nhưtrong hoạt động marketing, kết nối cung cầu, quản trị nhân sự…

Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu khai mạc Diễn đàn
Kế tiếp là phần trình bày về chương trình “Chuyển đổi số trong lĩnh vực kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp”. Ông Trần Duy Ninh, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia – Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổng hợp vắn tắt về Thực trạng chuyển đổi số trong kinh tế hợp tác nông nghiệp và Chủ trương, chính sách và định hướng đến năm 2030, Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong kinh tế hợp tác nông nghiệp. Theo ông, việc Luật hóa công tác chuyển đổi số sẽ giúp cho các doanh nghiệp nói chung, các HTX nông nghiệp nói riêng nắm bắt được các nội dung cần thực hiện, đảm bảo tính pháp lý. Việc ban hành Luật Chuyển đổi số song song với ban hành các nghị định, thông tư, hướng dẫn… sẽ tạo nên một khung chuyển đổi số quốc gia chuẩn mực, phân rõ nền tảng nào dùng chung, nền tàng nào dùng riêng, các dữ liệu trước đây phân tán sẽ được Bộ Công an tập hợp, chia sẻ cho các doanh nghiệp và các HTX cách hợp lý. Ba nội dung cơ bản mà các HTX cần xây dựng là: Hạ tầng, nền tảng và nguồn lực. Nhà nước sẽ hỗ trợ.

Ông Trần Duy Ninh, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số – Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Diễn đàn
Tiếp nối chương trình, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày về “Liên kết chuỗi giá trị và xây dựng hệ sinh thái số trong nông nghiệp”. Theo đó làm rõ vai trò, thực trạng, thách thức, giải pháp trong liên kết chuỗi nông sản; đề xuất mô hình hệ sinh thái số hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị hiệu quả, bền vững; gợi mở hành động chính sách, đầu tư, đào tạo và hợp tác để thúc đẩy chuyển đổi số.

Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày về “Liên kết chuỗi giá trị và xây dựng hệ sinh thái số trong nông nghiệp” tại Diễn đàn
Sau phần trình bày của ông Lê Đức Thịnh là bài phát biểu của PGS.TS Mai Quang Vinh, Chủ tịch Liên hiệp HTX Kinh tế số VN, Viện trưởng Viện Công nghệ Xanh về Chuyển đổi kép “Xanh – Số” trong nông nghiệp: Nắm bắt cơ hội, thích ứng tương lai của nông sản Việt. Theo ông chuyển đổi xanh là hết sức cấp bách trong thời đại ngày nay và việc kết hợp với chuyển đổi số sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh, giúp cải tạo và bảo vệ môi trường, tăng thu nhập từ việc bán tín chỉ các-bon… đổi lại chuyển đổi xanh cũng giúp công tác chuyển đổi số trở nên thuận lợi, thu thập được nhiều dữ liệu hữu ích.

PGS.TS Mai Quang Vinh, Chủ tịch Liên hiệp HTX Kinh tế số VN, Viện trưởng Viện Công nghệ Xanh trình bày về “Chuyển đổi kép “Xanh – Số” trong nông nghiệp: Nắm bắt cơ hội, thích ứng tương lai của nông sản Việt” tại Diễn đàn
Sau đó là phần tham luận của các lãnh đạo HTX trên cả nước. Bà Lê Thị Thu Hiền, Trưởng đại diện Tổ chức Agriterra tại Việt Nam trình bày nội dung “Xây dựng hệ thống dữ liệu số phục vụ quản trị HTX và liên kết thị trường: Một vài kinh nghiệm từ Hà Lan và Việt Nam”. Ông Nguyễn Thanh Mộng, Giám đốc phát triển thị trường Việt Nam giới thiệu “Hệ sinh thái chuyển đổi số cho các HTX – cơ quan hỗ trợ/quản lý HTX”. Các tham luận khác về chuyển đổi số trong các HTX như sản xuất các sản phẩm từ hoa hồi (Tràng Định, Lạng Sơn), Cam (Cao Phong, Hòa Bình – nay là Phú Thọ), Canxi từ vỏ trứng gà (Hà Đông, Hà Nội)… đã cho thấy tính cấp bách trong công tác chuyển đổi số và một số bất cập, vướng mắc, các điểm “nghẽn” khi triển khai chương trình này tại cơ sở.
Đoàn chủ tịch đã từng bước trả lời câu hỏi thảo luận của các lãnh đạo HTX và đi đến thống nhất một số nội dung liên quan đến công tác chuyển đổi số. Hai cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia – Bộ Khoa học và Công nghệ và Cục Kinh tế hợp tác và PTNT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hứa sẽ luôn đồng hành với các HTX trên cả nước, hỗ trợ về chính sách, vốn, kỹ thuật và tài liệu, tạo điều kiện cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam hoàn thành chương trình chuyển đổi số cách sớm nhất, chuẩn xác và hợp pháp.

Phát biểu tổng kết Diễn đàn, Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam khẳng định chủ trương chuyển đổi số trong nông nghiệp sẽ được thực hiện một cách triệt để, công khai và minh bạch. Liên minh HTX sẽ nắm bắt cơ hội này để kịp thời thích ứng tương lai, khi Luật Chuyển đổi số được áp dụng và phổ biến tới từng người dân, từng xã viên HTX. Bà Cao Xuân Thu Vân cũng mong muốn lãnh đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ tối đa cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong công tác này.
Một số hình ảnh của Diễn đàn:



Thực hiện: Thành Vinh
Hội nghị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050”
8h30 sáng nay (22/10/2025), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050” và tham vấn cho dự thảo kế hoạch hành động triển khai đề án.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung chủ trì hội nghị. Cùng dự có lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ như Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Biến đổi khí hậu, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Khoa học và Công nghệ, cùng đại diện UBND, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố theo cả hình thức trực tiếp lẫn trực tuyến. TS Phạm Đình Nam, Viện trưởng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam cùng một số chuyên gia của Viện tham gia với hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom.
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh đề án được ban hành đúng thời điểm, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ngành trồng trọt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập sâu vào thị trường quốc tế. Mục tiêu trọng tâm của đề án là vừa đảm bảo tăng trưởng về năng suất và giá trị, vừa giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn.

Kế tiếp là phần công bố những mục tiêu cụ thể của Đề án, Ông Huỳnh Tấn Đạt – Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – khẳng định “Ngành trồng trọt đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ góp phần giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2020”. Tại địa phương, mỗi tỉnh, thành sẽ triển khai ít nhất 1-2 mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải có thể nhân rộng, thí điểm tối thiểu 15 mô hình canh tác đủ điều kiện phát triển tín chỉ carbon. Hệ thống dữ liệu phát thải sẽ được đồng bộ với Hệ thống đăng ký quốc gia. Ngành sẽ đào tạo tối thiểu 3.000 cán bộ kỹ thuật, khuyến nông, nông dân và doanh nghiệp; xây dựng ít nhất 5 bộ tài liệu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi sản xuất theo hướng phát thải thấp.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trình bày về Kế hoạch hành động thực hiện Đề án
Tiếp nối chương trình, Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trình bày về Kế hoạch hành động thực hiện Đề án. Bà Hương biết, Kế hoạch hành động gồm 7 nhóm nhiệm vụ chính: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện Đề án; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt, phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái; Phát triển và áp dụng các gói kỹ thuật sản xuất trồng trọt giảm phát thải; Triển khai mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải quy mô vùng và chuỗi giá trị; Thiết lập, vận hành hệ thống đo lường – báo cáo – thẩm định (MRV) và cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính; Nâng cao năng lực và chuyển đổi nhận thức; Kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp.

7 nhóm nhiệm vụ chính trong kế hoạch hành động của Đề án
Sau đó là phần tham luận của các lãnh đạo sở Nông nghiệp và Môi trường trên cả nước. Ông Nguyễn Mạnh Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội trình bày về hoạt động sản xuất nông nghiệp giảm phát thải của Thủ đô. Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng khẳng định tầm quan trọng của việc triển khai Đề án giảm phát thải trong trồng trọt, nhất là với các địa phương có thế mạnh như Lâm Đồng. Ông Lê Chí Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp, nhấn mạnh, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường chuẩn bị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050” là bước đi thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu Net zero vào năm 2050. Bà Đinh Thị Phương Khanh – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh đề xuất, để các địa phương sớm triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ được giao trong khuôn khổ Đề án, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần sớm xây dựng bộ tiêu chí chuyển đổi cây trồng.

Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại Hội nghị
Các đại biểu cũng nêu những góp ý cho đề án. Theo đó PGS.TS Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam cho rằng, đề án trồng trọt giảm phát thải và đề án nâng cao sức khỏe đất được ban hành tháng 10/2024 chính là “xương sống” của ngành trồng trọt trong giai đoạn mới. TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, đại diện Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam, cho rằng, để đạt được mục tiêu giảm 15% phát thải khí nhà kính đến năm 2050, cần lượng hóa rõ ràng các nhiệm vụ và mục tiêu của từng hợp phần trong Đề án. bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt đã góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam, tạo thuận lợi để các sản phẩm trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. PGS.TS Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, cho rằng đề án trồng trọt giảm phát thải đã đi đúng hướng phát triển được khuyến khích, đó là phát triển xanh, hữu cơ, bền vững và có định hướng thị trường rõ ràng. TS Lê Văn Tri, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón sinh học Việt Nam đề nghị xem xét bổ sung cây cao su trong nhóm cây trồng chuyển đổi hình thức canh tác…

Đề xuất mô hình triển khai Đề án tại các địa phương
TS Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch HĐQT Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai cho rằng, để quá trình chuyển đổi sang trồng trọt giảm phát thải đạt hiệu quả và bền vững, cần bổ sung 2 nhóm giải pháp lớn: Điều chỉnh cơ sở hạ tầng nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu mới của sản xuất xanh, đặc biệt là hệ thống thủy lợi cho cây lúa và lập kế hoạch huy động nguồn lực cho chuyển đổi trên phạm vi toàn quốc, bởi nếu chỉ trông chờ vào ngân sách thì khó có thể đi đường dài. Theo ông Phát, trong 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm của dự thảo kế hoạch hành động, chính sách vẫn là yếu tố then chốt. Cần thống nhất quan điểm coi nông dân và doanh nghiệp là hai chủ thể trung tâm, vừa là người thực hiện, vừa là người hưởng lợi. Khi thấy được lợi ích cụ thể và được hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, họ sẽ chủ động tham gia, đặc biệt trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật.

TS Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch HĐQT Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai phát biểu tại Hội nghị
Phát biểu tổng kết Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung khẳng định chủ trương triển khai Đề án: “Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ quy mô địa bàn thực hiện”. Theo đó, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – cơ quan chuyên môn chủ trì Đề án sẽ phải cập nhật chế độ báo cáo chỉ đạo định hướng vào NDC. Về cơ chế chính sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo Cục Biến đổi khí hậu, trước 2028 thí điểm trao đổi carbon nội địa, trên cơ sở đó tham gia trao đổi carbon quốc tế. Ông nói: “Cần phải bán được, khơi thông được thị trường cho người dân”.
Thứ trưởng cũng chỉ đạo, ngay sau hội nghị, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tiếp thu bổ sung hoàn chỉnh dự thảo Kế hoạch để thực sự khả thi, thực tế và có sự ưu tiên có chọn lọc trong từng giai đoạn thực hiện dự án. Cần phải bán được, khơi thông được thị trường cho sản phẩm trồng trọt giảm phát thải.
Ngoài ra, Cục sẽ có trách nhiệm làm việc cùng địa phương chọn lựa mô hình chuyển đổi cây trồng. Đặc biệt, Ban chỉ đạo sẽ chỉ đạo xuyên suốt kế hoạch, sơ kết, tổng kết, tháo gỡ vướng mắc trong các khâu thực hiện. Về nguồn lực, Bộ sẽ có cuộc họp thảo luận với sự tham gia cơ quan nhà nước, đối tác quốc tế có những dự án đã được phê duyệt và sắp phê duyệt và đặc biệt là nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, hiệp hội cùng chung tay đóng góp bền vững.
Tái khẳng định tham vọng của Đề án, Thứ trưởng Hoàng Trung chia sẻ: Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 không chỉ là một chương trình của Bộ, mà là một phong trào hành động quốc gia, là lời cam kết của nông nghiệp Việt Nam trước thế giới về trách nhiệm trước biến đổi khí hậu, về con đường phát triển xanh, bền vững.”
Một số hình ảnh của Hội nghị:



Thực hiện: Thành Vinh
Nông nghiệp tái sinh và hữu cơ: Tương lai của nông nghiệp toàn cầu
Nông nghiệp hữu cơ toàn cầu đang ở ngã rẽ quan trọng
Khai mạc hội nghị hữu cơ Châu Á
Bài học thế giới về phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững
Trong bài trình bày tại Hội nghị hữu cơ Châu Á lần thứ 8 diễn ra từ ngày 17 – 19/9 tại Ninh Bình, GS.TS André Leu – Giám đốc Quốc tế của Tổ chức Regeneration International (RI), nguyên Chủ tịch IFOAM quốc tế (Organics International), đồng thời là một nông dân canh tác nông nghiệp hữu cơ theo hướng tái sinh đã chia sẻ những quan điểm quan trọng về con đường phát triển nông nghiệp toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu và môi trường.
Từ khủng hoảng nông nghiệp công nghiệp đến sự hình thành phong trào tái sinh
Theo ông Leu, trước năm 2015, khái niệm “nông nghiệp tái sinh” hầu như ít được nhắc tới. Thế nhưng chỉ sau một thập kỷ, nó đã trở thành thuật ngữ phổ biến trên báo chí toàn cầu, gắn liền với những thảo luận về môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Năm 2015, các nhà lãnh đạo của nhiều phong trào hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tổng hợp, các phong trào môi trường, sức khỏe tự nhiên đã thành lập RI. Ban chỉ đạo sáng lập gồm TS Vandana Shiva, Ronnie Cummins, TS. Hans Herren, Steve Rye và GS.TS André Leu. Sau 10 năm, hiện RI đã mở rộng tới 680 đối tác ở 80 quốc gia, trở thành một mạng lưới hợp tác toàn cầu có sức ảnh hưởng lớn.

GS.TS André Leu, Giám đốc Quốc tế của Tổ chức Regeneration International, nguyên Chủ tịch IFOAM quốc tế (Organics International) cho rằng, việc chuyển đổi khỏi nông nghiệp công nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Ảnh: Hồng Thắm.
Ông Leu chỉ rõ, nông nghiệp công nghiệp là mối đe dọa hiện hữu đối với hành tinh do bản chất thoái hóa tự nhiên của nó. Đây là nguyên nhân của 80% tình trạng phá rừng và mất đa dạng sinh học, đồng thời là nguồn phát thải khí nhà kính lớn. Hệ thống chăn nuôi công nghiệp tiêu tốn tới 10 kg protein thực vật để sản xuất 1 kg protein động vật, vừa kém hiệu quả vừa tàn phá môi trường.
Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đã để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe con người và hệ sinh thái. Vì vậy theo ông, việc chuyển đổi khỏi nông nghiệp công nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ sức khỏe của con người và phúc lợi của tất cả loài khác trong hành tinh này.
Tiêu chuẩn tái sinh quốc tế và lộ trình chuyển đổi
Một trong những định hướng then chốt mà ông Leu nhắc tới là khái niệm “hữu cơ 3.0 – Organic 3.0”, coi nông nghiệp hữu cơ như một “ngọn hải đăng” dẫn dắt sự thay đổi, góp phần nâng cao tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp chính thống.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai hợp tác, ông và đồng sự cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là những mô hình sản xuất đã đạt được chứng nhận hữu cơ.
Nếu chọn các từ như “hữu cơ” hay “nông nghiệp sinh thái” sẽ có nhiều ý kiến của các bên liên quan tiềm năng, chẳng hạn như nông lâm kết hợp, canh tác tổng hợp, canh tác bền vững… Vì vậy, RI đã chọn thuật ngữ “tái sinh” (regenerative) – một khái niệm rõ ràng, trung lập, giúp tiếp cận nông dân và các bên liên quan một cách cởi mở. “Tái sinh” cũng là khái niệm có sức cộng hưởng sâu sắc với hầu hết mọi người.

Nông nghiệp tái sinh là phương pháp canh tác bền vững nhằm phục hồi và nâng cao chất lượng đất đai, độ phì nhiêu, đa dạng sinh học, nguồn nước và hệ sinh thái tổng thể. Ảnh: RI.
Hiện nay, nông nghiệp tái sinh đã được nông dân, các tổ chức nông dân, tập đoàn thực phẩm, dệt may và nhiều chính phủ trên thế giới ủng hộ. Đáng chú ý, phong trào này không khởi phát từ các tập đoàn hay học giả mà được thúc đẩy bởi chính nông dân – những người trực tiếp đối mặt với thách thức của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường.
Một điểm nhấn khác trong bài trình bày của ông Leu là Tiêu chuẩn tái sinh quốc tế của RI được công bố vào tháng 3/2025.
Tiêu chuẩn này được cung cấp độc quyền cho các tổ chức chứng nhận hữu cơ đã được đánh giá kỹ lưỡng vì họ có hệ thống hiệu quả nhất trong việc xác minh thực hành sản xuất và ngăn chặn gian lận.
Ông Leu cho hay, lý do đưa ra tiêu chuẩn mới là bởi bang California (Mỹ) từng ban hành định nghĩa về nông nghiệp tái sinh nhưng lại cho phép sử dụng hóa chất độc hại và sinh vật biến đổi gen – đi ngược với tinh thần “tái sinh”.
Theo tiêu chuẩn RI, người sản xuất nông nghiệp tái sinh có thể được chứng nhận ở hai cấp độ. Một là nông nghiệp tái sinh hạng A – đáp ứng tất cả yêu cầu. Hai là nông nghiệp tái sinh trong giai đoạn chuyển đổi – đang trong quá trình đáp ứng tất cả yêu cầu.
Không có thời hạn cụ thể nào cho các nhà thực hành tiêu chuẩn để tiến tới chứng nhận nông nghiệp tái sinh hạng A. Tuy nhiên, tất cả các nhà thực hành được chứng nhận nông nghiệp tái sinh trong giai đoạn chuyển đổi phải nêu rõ khung thời gian và phương pháp để loại bỏ các đầu vào và thực hành bị cấm. Điều này cần được xem xét lại hàng năm, tập trung vào việc cải tiến liên tục.
Ông Leu nhấn mạnh: “Chúng tôi khuyến khích nông dân thực hiện bước đi đầu tiên hướng tới sự thay đổi tích cực. Đây thường là khía cạnh khó khăn nhất trong bất kỳ quá trình chuyển đổi nào. Theo nghiên cứu của chúng tôi, một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều nông dân e ngại khi tham gia sản xuất hữu cơ có chứng nhận đó là yêu cầu về giai đoạn chuyển đổi kéo dài 3 năm”.
“Với tiêu chuẩn của chúng tôi, người sản xuất có thể dễ dàng đạt chứng nhận tái sinh trong giai đoạn chuyển đổi. Do đó, chúng tôi đã giúp nông dân bắt đầu hành trình trở thành tái sinh một cách đơn giản, với mục tiêu cuối cùng là đạt được chứng nhận tái sinh hạng A”, ông Leu nói thêm.
GS.TS André Leu hiện là Giám đốc Quốc tế của Tổ chức Regeneration International (RI) từ năm 2017. Trước đó, ông từng giữ chức Chủ tịch IFOAM quốc tế (Organics International) từ năm 2011 đến 2017 – một tổ chức đại diện toàn cầu duy nhất cho lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ. Ông là chuyên gia hàng đầu về hệ thống canh tác sinh thái dựa trên tự nhiên với hơn 50 năm kinh nghiệm làm nông nghiệp hữu cơ theo hướng tái sinh, tập trung vào nông sinh thái (agroecology).
CAO TRÀ MỤC NHAN – VĂN HÓA THƯỞNG TRÀ TUYỆT ĐỈNH
Khi tới nhiều nước vùng Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, bạn thường được mời thưởng thức những ly trà tuyệt đỉnh, những sản phẩm trà có hạn sử dụng lên tới hàng chục năm và họ tự hào về “văn hóa thưởng trà” của mình. Việt Nam có làm được điều đó không? Cao trà Mục Nhan phải chăng là một câu trả lời cho bạn.

Hội đồng khoa học “Đánh giá tư vấn và định hướng phát triển Cao trà Mục Nhan cho Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ”
Sản phẩm này được Hội đồng khoa học đánh giá, tư vấn và đề ra đinh hướng phát triển trong thời gian tới cho Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ vào ngày 6/9/2025 tại Phòng họp 102, số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hội đồng gồm các chuyên gia khoa học công nghệ: PGS.TS Trần Mạnh Trí – Chủ tịch Hội đồng, PGS.TS Đỗ Thị Việt Hương – Chuyên gia Hóa học, TS Phạm Đình Nam – Chuyên gia Kinh tế nông nghiệp, ThS Đào Văn Núi – Chuyên gia dược liệu, KS Phùng Văn Chung – Chuyên gia cấp chứng chỉ nông nghiệp; TS Nguyễn Hồng Hạnh, TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh đều là các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam hiện nay trên lĩnh vực khoa học công nghệ và nông nghiệp.
Tại đây, chị Lê Thị Hoa, Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ đã nêu mục đích và ý nghĩa của việc sản xuất Cao tra Mục Nhan. Theo đó giới thiệu đây là sản phẩm Cao trà đầu tiên tại Việt Nam và xác lập kỷ lục có hàm lượng polyphenol lên tới 45,1%, cao nhất trong các loại trà thương mại hiện nay trên thị trường trong nước. Để có được thành công này, chính chị Hoa đã sang Trung Quốc học hỏi công nghệ sản xuất các loại trà được xem là “tuyệt đỉnh” của đất nước này: Không chỉ là hương vị, không chỉ là khả năng lưu hương và tuổi thọ của sản phẩm, các loại trà này còn là dược liệu chữa bệnh, tạo cảm giác thư thái cho người sử dụng, sảng khoái nhưng không làm mất ngủ. Tóm lại, thưởng trà không chỉ là thú chơi mà còn là một nét văn hóa thanh lịch và có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên các sản phẩm này hầu như chỉ phục vụ cho tầng lớp có thu nhập cao vì giá thành rất đắt, lên tới hàng ngàn nhân dân tệ một ấm trà (tức là khoảng 5-10 triệu đồng) và tất nhiên, nguyên liệu để sản xuất ra những loại trà “tuyệt đỉnh” này không hề rẻ. Sau khoảng thời gian dài theo đuổi công nghệ sản xuất trà, chị Hoa đã phát hiện vùng núi phía Bắc nước ta có những gốc trà cổ hàng trăm tuổi có chất lượng tương đương hoặc tốt hơn của Trung Quốc với giá thành rẻ hơn hẳn. Chị đã áp dụng công nghệ mình học được và sản xuất thành công “Cao trà Mục Nhan”, từ đó mở rộng sang các loại trà độc đáo khác như Trà San Tuyết Mục Nhan, Trà Vàng Cổ Thụ Mục Nhan hay Trà Ô Long Mục Nhan. Các sản phẩm này có chất lượng không hề kém so với trà “tuyệt đỉnh” của Trung Quốc, chưa kể một số thành phần hữu ích trong sản phẩm có tỷ lệ còn cao hơn, đặc biệt là polyphenol, với đỉnh cao là 45,1% trong Cao trà Mục Nhan và được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục này vào ngày 02/04/2025 vừa qua. Kỷ lục này có ý nghĩa vô cùng to lớn khi polyphenol chất chống oxy hoá mạnh mẽ, có khả năng trung hòa gốc tự do, hỗ trợ phòng ngừa ung thư, làm chậm quá trình lão hoá tế bào và tỷ lệ này trong trà tự nhiên chỉ khoảng 10-18%, đối với trà thương mại bằng công nghệ hiện đại nhất hiện nay cũng chỉ đạt dưới 40%. Ngoài ra Cao trà Mục Nhan cũng có hàm lượng catechin (có tính năng phòng ngừa ung thu và giảm lão hóa tế bào tương tự polyphenol) khá cao, lên tới 19,9% và không bị biến đổi theo nhiệt độ, do đó có thể pha trà với nước nóng 95-100 độ mà trà không bị biến chất, có thể pha với nước ấm dùng luôn cũng được. Do nguyên liệu rẻ và tự sản xuất trong nước, Cao trà Mục Nhan hiện nay có giá chỉ bằng 1/10 so với trà cao cấp của Trung Quốc, với độ đậm đặc cực cao, một viên Cao trà đường kính khoảng 2cm có thể pha được 25 ấm trà, trong đó vùng ngon nhất ở các lượt pha thứ 9 đến 12.

Chị Lê Thị Hoa giới thiệu sản phẩm Cao trà Mục Nhan và các loại trà của Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ
Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể sản xuất được “tuyệt đỉnh Cao trà” với chất lượng tương đương các loại trà cao cấp nhất của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mà giá thành thấp hơn rất nhiều và có thể đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu sử dụng. Cao trà Mục Nhan không chỉ là sản phẩm tiên phong, hơn thế, còn xác lập kỷ lục quốc gia về thành phần có lợi cho sức khỏe, được quan tâm nhất hiện nay đó là chống lão hóa và phòng ngừa ung thư: chất polyphenol.

Xác lập kỷ lục Cao trà có hàm lượng polyphenol cao nhất tại Việt Nam
Đánh giá sản phẩm này, sau khi thưởng thức thực tế tại cuộc họp, TS. Nguyễn Thị Ngọc Dinh, người tự nhận mình là “nghiện trà” cho rằng đây là một sản phẩm tuyệt vời mà lần đầu chị được thưởng thức và mong muốn sản phẩm này sẽ được biết đến nhiều hơn. TS. Dinh góp ý, để làm được điều này, Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ – đơn vị sản xuất Cao trà Mục Nhan cần bổ sung thêm kết quả phân tích y sinh, bổ sung kế hoạch lấy mẫu, kiểm nghiệm sản phẩm để nâng cao chất lượng và đảm bảo tính an toàn cho sức khỏe con người về mặt pháp lý.
TS Nguyễn Hồng Hạnh góp ý nên có mã QR kể câu chuyện về từng loại trà phù hợp với xu hướng thưởng trà hiện nay. PGS.TS Đỗ Thị Việt Hương bổ sung cảm quan về các sản phầm trà để nâng cao ý nghĩa của sản phẩm về mặt văn hóa và lợi ích sức khỏe cho người sử dụng. Theo TS. Hương, nên bổ sung thêm các thông số kỹ thuật như nhiệt độ, độ ẩm… trong quy trình sản xuất cũng như hướng dẫn sử dụng. ThS Đào Văn Núi cho rẳng doanh nghiệm nên bổ sung tiêu chuẩn cơ sở cho vùng nguyên liệu còn KS Phùng Văn Chung tư vấn doanh nghiệp về các chứng chỉ nông nghiệp đáp ứng TCVN, QCVN để sản phẩm được công nhận rộng rãi hơn.
Phát biểu tại cuộc họp, TS Phạm Đình Nam, Viện trưởng VITAD-AGRI đề nghị Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ nên có phương án tốt cho việc phát triển vùng nguyên liệu, để bà con nông dân – chủ các cây trà cổ – có thể phát triển nguyên liệu nhiều hơn, tốt hơn, bán với giá cao hơn, sống tốt và tiến tới làm giàu nhờ nguyên liệu mình trồng.

TS. Phạm Đình Nam – chuyên gia Kinh tế Nông nghiệp – phát biểu tại cuộc họp
PGS.TS Trần Mạnh Trí, Chủ tịch hội đồng đã tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, đánh giá cao Cao trà Mục Nhan, tin tưởng sản phẩm này sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Ông cũng hứa với doanh nghiệp sẽ có những kiến nghị lên các cấp hỗ trợ bà con phát triển vùng nguyên liệu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có lợi cho sức khỏe mà đậm đà tính văn hóa này.

PGS.TS Trần Mạnh Trí – Chủ tịch Hội tổng hợp ý kiến của các thành viên Hội đồng khoa học
Theo ông, việc phát triển các sản phẩm trà của Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ hoàn toàn khả thi và trong tương lai gần, các loại trà, đặc biệt là Cao trà Mục Nhan sẽ là thức uống tuyệt vời, là món quà quý giá và quen thuộc của người lữ hành, dễ mang theo sử dụng khi du lịch cũng như làm quà cho gia đình, người thân và cùng với sự nghiên cứu, đổi mới về công nghệ, những kỷ lục mới cũng sẽ được xác lập.

Hội đồng khoa học cam kết đồng hành cùng Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Vườn Táo Cổ trong quá trình phát triển các sản phẩm trà, đặc biệt là Cao trà Mục Nhan
Thực hiện: Thành Vinh
Hội thảo “Trao đổi kỹ thuật về Phương pháp định giá tín chỉ các-bon rừng”
13h30 ngày 29/08/2025, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm – Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội thảo “Trao đổi kỹ thuật về Phương pháp định giá tín chỉ các-bon rừng”, hình thức Trực tuyến qua nền tảng Zoom, với sự điều hành của đồng chí Phạm Hồng Lượng – Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm.
Cuộc Hội thảo được thực hiện bởi các chuyên gia về “Tín chỉ Carbon” của Bộ TN&MT cùng các nhà khoa học, các đại diện doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các sản phẩm lâm nghiệp, nông nghiệp trong và ngoài nước.
Mở đầu cuộc Hội thảo là bài luận của TS Phạm Thu Thủy, chuyên gia nghiên cứu Lâm nghiệp và môi trường. Bà đã giới thiệu các khái niệm cơ bản về “Tín chỉ Carbon”, “Định giá Carbon” hay “Xác định giá sàn và giá trần” của việc định giá này.
TS Phạm Thu Thủy giới thiệu các khái niệm cơ bản về “Tín chỉ Carbon”, “Định giá Carbon” hay “Xác định giá sàn và giá trần”
Tín chỉ carbon là gì?
Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2. Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính quy đổi tương đương sang CO2 đã được ngăn chặn hoặc loại bỏ. Lượng CO2 mà cây cối mới trồng có thể hấp thụ so với kịch bản này sẽ được coi là lượng tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Phần tăng này được bao nhiêu tấn thì quy đổi ra bao nhiêu “Tín chỉ Carbon”.

Đồ họa: Dỹ Tùng từ Net Zero.vnexpress.net
Vì sao có tín chỉ carbon?
“Tín chỉ carbon” bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) năm 1997, một hiệp định quốc tế nhằm kiểm soát và giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Theo đó, các quốc gia tham gia cam kết sẽ giảm lượng phát thải khí nhà kính, đồng thời được phép trao đổi quyền phát thải carbon với nhau trên thị trường quốc tế thông qua tín chỉ carbon. Từ đó, thị trường carbon toàn cầu, nơi các công ty hoặc quốc gia phát thải nhiều hơn mức quy định có thể mua tín chỉ từ các tổ chức, dự án hoặc quốc gia có lượng phát thải thấp hơn hoặc hấp thụ carbon như một trong các cách thức để đạt được các mục tiêu giảm phát thải.
Cách thức hoạt động của tín chỉ carbon:
– Doanh nghiệp phát thải cao:
Doanh nghiệp có lượng phát thải vượt quá giới hạn được phép sẽ cần mua tín chỉ carbon từ thị trường để bù đắp lượng khí thải này.
– Dự án giảm phát thải:
Các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân đầu tư vào các dự án giảm phát thải hoặc loại bỏ khí nhà kính, ví dụ như trồng rừng, sử dụng năng lượng tái tạo, sẽ nhận được tín chỉ carbon.
– Thị trường giao dịch:
Tín chỉ carbon có thể được giao dịch mua bán trên thị trường, giúp cân bằng lượng khí thải giữa các bên.
Mục đích và ý nghĩa:
– Giảm biến đổi khí hậu:
Tín chỉ carbon là một công cụ quan trọng trong cơ chế thị trường để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
– Khuyến khích phát triển xanh:
Tạo động lực tài chính cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh, năng lượng sạch và các dự án thân thiện với môi trường.
– Đáp ứng quy định pháp lý:
Các doanh nghiệp có thể sử dụng tín chỉ carbon để tuân thủ các quy định quốc gia và quốc tế về giảm phát thải.
TS Thủy cũng đã giới thiệu ứng dụng khoa học công nghệ và AI để định giá, dự báo carbon rừng và rừng đô thị sử dụng trí tuệ nhân tạo kết hợp ảnh vệ tinh và dữ liệu diễn biến trong lịch sử + dự báo tương lai (chẳng hạn giá, nhu cầu thị trường, sở thích người mua, tiềm năng carbon rừng…).

TS Phạm Thu Thủy giới thiệu về ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ và AI trong định giá, dự báo carbon rừng
Sau giờ giải lao, đại diện các chuyên gia nghiên cứu các phương pháp định giá carbon rừng của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm- Bộ TN&MT đã công bố “Dự thảo phương pháp định giá các-bon rừng”, cụ thể là hai phương pháp chính: Phương pháp chi phí (bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp” và phương pháp so sánh (dựa vào các tham số tham chiếu cùng loại).



Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm- Bộ TN&MT đã công bố “Dự thảo phương pháp định giá các-bon rừng”
Tiếp theo chương trình Hội thảo, các thành viên tham dự đã tích cực tham gia thảo luận về khái niệm và ứng “Tín chỉ các-bon”, tranh luận về sự phù hợp tại Việt Nam và phản biện về các phương pháp định giá các-bon rừng trong nước cũng như tiến trình hòa nhập với thế giới. Nhiều câu hỏi tranh biện được Cục Lâm nghiệp và Thủy Kiểm lâm – Bộ TN&MT, TS Phạm Thu Thủy trả lời đầy đủ, chi tiết. Nhiều phát biểu được ghi nhận như tham luận của ông Vũ Tấn Phương – Giám đốc VFCO (trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), bà Helen Trần – Giám đốc công ty xuất nhập khẩu sản phẩm gỗ nội thất (Australia)…

Ông Vũ Tấn Phương – Giám đốc VFCO (trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) phát biểu tại Hội thảo
Kết thúc Hội thảo, đồng chí Phạm Hồng Lượng cảm ơn các thành viên đã tham gia tích cực, đánh giá cuộc họp thành công tốt đẹp, mở ra một chương mới về ứng dụng “Tín chỉ Các-bon” tại Việt Nam, phù hợp với thế giới. Cuộc trao đổi kỹ thuật về Phương pháp định giá tín chỉ các-bon rừng đã giúp Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm – Bộ TN&MT vỡ ra nhiều điều và sẽ hoàn thiện “Dự thảo phương pháp định giá các-bon rừng” trình Bộ phê duyệt. Ông cũng mong các nhà khoa học và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các sản phẩm lâm nghiệp, nông nghiệp trong và ngoài nước sẽ cùng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nói riêng, Bộ TN&MT nói chung cùng chung tay xây dựng các chiến lược phù hợp vì lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường cho nước ta cũng như toàn thế giới.
Thực hiện: Thành Vinh