Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn năm 2020-2030
Ngày 2/11, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức Hội nghị triển khai Đề án Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn năm 2020-2030
ề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 do Bộ NN&PTNT trình Chính phủ và vừa được phê duyệt bắt nguồn từ chính thực tiễn, phương thức và định hướng chung của Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đề án nhằm thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và phát huy tiềm năng thế mạnh về nông nghiệp hữu cơ của các vùng miền và địa phương, góp phần định vị và nâng cao thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ nông nghiệp thế giới; đưa Việt Nam trở thành quốc gia có trình độ sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngang bằng các nước tiên tiến trên thế giới.
Đây cũng là chỉ đạo xuyên suốt của Trung ương, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ những năm qua. Và ngành nông nghiệp đang tích cực triển khai chủ trương này. Bên cạnh đó, nông nghiệp hữu cơ đang là xu thế phát triển và sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới do đảm bảo cung cấp được các sản phẩm tốt hơn cho sức khỏe con người và cho xã hội.
Theo Bộ NN&PTNT, tính đến nay, diện tích canh tác hữu cơ tại Việt Nam tăng từ 53.350 ha năm 2016 lên khoảng 237.693 ha năm 2019. Cả nước có 46/63 tỉnh thành đang thực hiện và có phong trào sản xuất hữu cơ. Số nông dân tham gia sản xuất hữu cơ là 17.168 người.
Số lượng doanh nghiệp sản xuất hữu cơ là 97 doanh nghiệp; tham gia xuất khẩu là 60 doanh nghiệp với kim ngạch khoảng 335 triệu USD/năm. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Việt Nam được tiêu thụ trong nước và hiện đã xuất khẩu đi 180 nước trên thế giới, trong đó có Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật, Đức, Anh, Hàn Quốc, Nga, Singapore, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Italia… là những thị trường tiêu thụ nông sản hữu cơ lớn nhất trên thế giới.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam cho biết, hội nghị nhằm phổ biến, quán triệt các nội dung chính của Đề án Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 giúp các đơn vị quản lý của Bộ, các địa phương, hiệp hội ngành hàng, người sản xuất và doanh nghiệp nắm được quan điểm phát triển, các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nhà nước về phát triển nông nghiệp hữu cơ. Qua đó triển khai xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của Đề án phù hợp với chức năng của đơn vị và điều kiện thực tế của địa phương.
Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, hiện nay rất nhiều hợp tác xã và hộ dân triển khai các mô hình nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên để họ hiểu nông nghiệp hữu cơ như thế nào, các tiêu chuẩn ra sao thì còn thiếu nhiều kiến thức.

Bộ NN&PTNT đã tham mưu Chính phủ ban hành Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030 nhằm tiến tới từng bước đưa Việt Nam trở thành quốc có trình độ sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngang bằng các nước tiên tiến. Để làm được việc này, theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, bên cạnh diện tích tiếp tục phải thâm canh, tăng năng suất đảm bảo an ninh lương thực thì từng địa phương căn cứ vào diện tích đất, cũng như mặt hàng nông nghiệp chủ lực để chỉ đạo phát triển nông nghiệp hữu cơ. Mặt khác, các tỉnh cũng cần tập trung công tác đào tạo và nâng cao năng lực sản xuất để các hợp tác xã và hộ dân triển khai các mô hình nông nghiệp hữu cơ hiểu rõ nông nghiệp hữu cơ như thế nào, tiêu chuẩn-quy chuẩn ra sao. Do đó, sau đợt này, bộ sẽ tổ chức các đợt tập huấn nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý các cấp từ cấp sở, cấp địa phương và người sản xuất về các tiêu chuẩn hữu cơ, nhất là Tiêu chuẩn TCVN 11041:2017 – Tiêu chuẩn quốc gia về nông nghiệp hữu cơ.
Ngoài ra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ hướng dẫn các quy trình sản xuất hướng đến nông nghiệp hữu cơ và đạt chuẩn nông nghiệp hữu cơ đến từng địa phương. Bởi lẽ, quy trình đầu tư để chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ là rất tốn kém, không phải nơi nào cũng làm được, nên cần phải triển khai từng bước.
Một vấn đề nữa được Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh, đó là làm sao để phối hợp với các ngành trong việc quản lý các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ khi đưa ra thị trường về nhãn mác, chất lượng. “Vừa qua, chúng tôi thử đi tìm hiểu một số nơi cho thấy có những mặt hàng được dán nhãn mác nông nghiệp hữu cơ nhưng lại chưa được chứng nhận nông nghiệp hữu cơ. Đây là vấn đề hiện nay cần phải chấn chỉnh. Việc này không chỉ riêng một mình Bộ NN&PTNT làm được mà đòi hỏi các ngành, nhất là các cơ quan quản lý thị trường cùng tham gia phối hợp”.
Vì vậy, trong thời gian tới, Bộ sẽ hỗ trợ về cơ sở pháp lý, tạo điều kiện để giúp đỡ các tổ chức chứng nhận hữu cơ trong nước để họ nâng cao năng lực đồng thời định hướng cho họ liên kết với các tổ chức chứng nhận quốc tế để từng bước nâng cao vị thế, trình độ, năng lực của các tổ chức chứng nhận trong nước ngang bằng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nguồn: Bộ NN&PTNT
VITAD-AGRI và VCCI đã phối hợp tổ chức buổi tập huấn hội thảo” Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông sản- Hành động tiếp cận EVFTA” ngày 30/7/2020
Để giúp các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nông sản chủ động bắt kịp, tận dụng tốt cơ hội ngay từ khi hiệp định có hiệu lực, VITAD-AGRI và VCCI đã phối hợp tổ chức buổi tập huấn hội thảo” Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông sản- Hành động tiếp cận EVFTA”.
Mục đích của buổi Tập huấn- Hội thảo là nhằm trang bị các kiến thức cần thiết của EVFTA liên quan đến xản xuất và xuất khẩu nông sản sang thị trường EU; Tạo lập liên kết chuỗi giữa sản xuất và xuất nhập khẩu nông sản; Đề xuất các chính sách nhằm chủ động, đẩy nhanh quá trình và nâng cao hiệu quả thực thi EVFTA trong sản xuất và xuất khẩu nông sản.
Các mục tiêu cụ thể:
- Xác định rõ các ngành hàng nông sản và các yêu cầu đặt ra với từng mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường EU (gồm i) Ngành hàng trồng trọt; ii) Ngành hàng chăn nuôi và iii) Ngành hàng thủy hải sản).
- Xác định và đề xuất những giải pháp, chính sách và lộ trình nhằm đẩy nhanh xuất khẩu nông sản sang thị trường EU (Theo từng ngành hàng)..
- Tạo lập liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp sản xuất với doanh nghiệp xuất nhập khẩu nông sản sang thị trường EU (Theo từng ngành hàng).
- Các mục tiêu sẽ được giải đáp, hướng dẫn cụ thể với những nội dung sau:
– Lộ trình thuế về 0% đối với các sản phẩm NN xuất khẩu của VN;
– Những sản phẩm hưởng thuế ưu đãi nhưng áp dụng hạn ngạch XK;
– Trình tự thủ tục thực hiện quy định nguồn gốc xuất xứ hàng hóa XK;
– Yêu cầu, thủ tục về quy định an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thức vật đối với nông sản XK;
– Quy định về chỉ dẫn địa lý và bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu;
– Yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
– Những ngành hàng nông sản XK có lợi thế canh tranh cao nhờ VEFTA, những khó khăn và giải pháp
Một số hình ảnh tại buổi Hội thảo, Tập huấn “Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông sản-Hành động tiếp cận EVFTA” ngày 30/7/2020

Giảm thiểu tác động của COVID-19 đối với thương mại và thị trường thực phẩm
Đây là tuyên bố chung của Tổng giám đốc Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO) QU Dongyu, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Roberto Azevedo.
Hàng triệu người trên thế giới phụ thuộc vào thương mại quốc tế để đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế. Khi các quốc gia ban hành các biện pháp nhằm ngăn chặn đại dịch COVID-19 đang gia tăng, cần phải thận trọng để giảm thiểu tác động tiềm ẩn đối với nguồn cung thực phẩm hoặc hậu quả không lường trước được đối với thương mại và an ninh lương thực toàn cầu.
Khi hành động để bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của người dân, các quốc gia cần đảm bảo rằng mọi biện pháp liên quan đến thương mại không làm gián đoạn chuỗi cung ứng thực phẩm. Những gián đoạn bao gồm cản trở sự di chuyển của các công nhân nông nghiệp và thực phẩm, kéo dài sự chậm trễ ở biên giới đối với hàng hóa dẫn đến sự hư hỏng của thực phẩm và làm gia tăng lãng phí thực phẩm. Hạn chế thương mại thực phẩm cũng có thể được liên kết với mối quan tâm phi lý về an toàn thực phẩm. Nếu một kịch bản như vậy xảy ra sẽ phá vỡ chuỗi cung ứng thực phẩm, với những hậu quả đặc biệt rõ rệt đối với những người dễ bị tổn thương và những người không đủ ăn.
Bất ổn về nguồn thực phẩm sẵn có có thể châm ngòi cho một làn sóng hạn chế xuất khẩu, tạo ra sự thiếu hụt trên thị trường toàn cầu. Những phản ứng như vậy có thể làm thay đổi cân bằng cung và cầu thực phẩm, dẫn đến tăng giá và biến động giá. Chúng tôi đã học được từ các cuộc khủng hoảng trước đây rằng các biện pháp như vậy đặc biệt gây tổn hại cho các nước thu nhập thấp, thiếu lương thực và các nỗ lực của các tổ chức nhân đạo trong việc mua thực phẩm cho những người có nhu cầu cấp thiết.
Chúng ta phải ngăn chặn sự lặp lại của các biện pháp gây tổn hại như vậy. Chính những lúc như thế này, hợp tác quốc tế trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Giữa các lần giãn cách xã hội vì COVID-19, mọi nỗ lực phải được thực hiện để đảm bảo hoạt động giao dịch diễn ra tự do nhất có thể, đặc biệt tránh thiếu lương thực. Tương tự, điều tối quan trọng là các nhà sản xuất thực phẩm và công nhân ở khâu chế biến và bán lẻ được bảo vệ để giảm thiểu sự lây lan của bệnh và duy trì chuỗi cung ứng thực phẩm. Người tiêu dùng, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất, phải được duy trì khả năng tiếp cận thực phẩm trong cộng đồng theo các yêu cầu an toàn nghiêm ngặt.
Chúng tôi cũng phải đảm bảo rằng thông tin về các biện pháp thương mại liên quan đến thực phẩm, mức độ sản xuất, tiêu thụ và nguồn cung dự trữ, cũng như về giá cả lương thực luôn có sẵn cho tất cả mọi người trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Điều này làm giảm lo ngại và cho phép các nhà sản xuất, người tiêu dùng và thương nhân đưa ra quyết định sáng suốt. Trên hết, điều này giúp hạn chế ‘mua hoảng loạn ‘và tích trữ thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu khác.
Bây giờ là lúc để thể hiện sự đoàn kết, hành động có trách nhiệm và tuân thủ mục tiêu chung của chúng tôi là tăng cường an ninh lương thực, an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, cải thiện phúc lợi chung của tất cả người dân trên toàn thế giới. Chúng tôi phải đảm bảo rằng phản ứng của chúng tôi với COVID-19 không vô tình tạo ra sự thiếu hụt không đáng có các mặt hàng thiết yếu và làm trầm trọng thêm tình trạng đói và suy dinh dưỡng.
(Nguồn: Bộ NN&PTNT)