Tag Archives: TẠP CHÍ NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ VIỆT NAM

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững

Từ lễ phát động tại Thái Nguyên năm 2017, ngày 19/9 trở thành dịp để cộng đồng hữu cơ Việt Nam tôn vinh những người tiên phong, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối phát triển. Nhìn lại chặng đường đã qua, những thành tựu về chính sách, tiêu chuẩn, sản xuất và hội nhập quốc tế đang tạo nền tảng để nông nghiệp hữu cơ tiếp tục phát triển vì sức khỏe con người và môi trường.
Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam.
Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam.

Khởi nguồn từ một lời kêu gọi vì cộng đồng

Tháng 9/2016, tại Hội nghị thượng đỉnh các chính quyền địa phương châu Á về phát triển nông nghiệp hữu cơ lần thứ hai ở Goesan, Hàn Quốc, đại biểu các nước thống nhất lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ châu Á. Hưởng ứng sáng kiến này, ngày 19/9/2017, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á lần thứ nhất.

Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tỉnh Thái Nguyên, đại diện IFOAM châu Á cùng hàng trăm đại biểu. Với sự đồng thuận của các đại biểu, ngày 19/9 được lựa chọn làm Ngày Hữu cơ Việt Nam, gắn hoạt động của cộng đồng trong nước với phong trào hữu cơ khu vực.

TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường.
TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường. Trong ảnh: TSKH. Hà Phúc Mịch phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024.

Việc lựa chọn Thái Nguyên làm nơi phát động mang ý nghĩa đặc biệt. Phát biểu tại lễ phát động (năm 2017), TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA đã nhắc lại mô hình chè hữu cơ được xây dựng từ năm 1998 tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời điểm đó. Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nhà khoa học và cơ quan chuyên môn, đây là một trong những mô hình sản xuất hữu cơ sớm ở Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho quá trình phát triển sau này.

Từ những người trồng chè tiên phong đến các nhóm nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp lựa chọn sản xuất hữu cơ, điểm gặp nhau là mong muốn tạo ra sản phẩm đáng tin cậy, bảo vệ đất đai và gìn giữ môi trường sống. Ngày 19/9 vì thế mang ý nghĩa ghi nhận những nỗ lực bền bỉ ấy, đồng thời tạo cơ hội để người sản xuất gặp gỡ nhà khoa học, doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Ngay tại lễ phát động năm 2017, Chủ tịch VOAA đã bày tỏ niềm tin ngày hội hữu cơ Việt Nam sẽ được tiếp nối hằng năm, “không bao giờ ngừng và không có lần cuối”. Đó là kỳ vọng về một phong trào được duy trì bằng hành động thường xuyên, từ đồng ruộng đến thị trường.

Đến lễ kỷ niệm năm 2024, thông điệp tôn vinh, tri ân, chia sẻ kiến thức và kết nối những người làm hữu cơ tiếp tục được nhấn mạnh. Qua các dấu mốc, Ngày Hữu cơ Việt Nam trở thành dịp nhắc lại trách nhiệm chung: người sản xuất thực hành đúng tiêu chuẩn, doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, người tiêu dùng đồng hành với những sản phẩm được kiểm chứng.

Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa.
Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa.

Những bước tiến về chính sách, sản xuất và hội nhập

Một thành tựu quan trọng của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam là từng bước hình thành nền tảng pháp lý và tiêu chuẩn. Nếu tại lễ phát động năm 2017, việc xây dựng chính sách riêng cho hữu cơ còn là nhiệm vụ đang được thúc đẩy, thì ngày 29/8/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ.

Tiếp đó, Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã xác lập định hướng dài hạn. Cùng với bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041, các văn bản này tạo cơ sở để tổ chức sản xuất, chứng nhận, quản lý chất lượng và triển khai chính sách hỗ trợ. Nông nghiệp hữu cơ có thêm điều kiện để phát triển theo những yêu cầu thống nhất, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị nông sản.

Theo báo cáo The World of Organic Agriculture 2026, do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ và IFOAM – Organics International công bố, năm 2024 Việt Nam có 125.045 ha đất nông nghiệp hữu cơ, chiếm khoảng 1,07% diện tích đất nông nghiệp và đứng thứ 5 châu Á; số nhà sản xuất hữu cơ đạt 65.466.

Báo cáo còn ghi nhận 17.946 tấn sản phẩm hữu cơ từ Việt Nam vào Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ trong năm 2024. Số liệu này phần nào cho thấy khả năng tham gia vào những thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc của sản phẩm hữu cơ của Việt Nam.

Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ).

Trong quá trình chuẩn hóa, VOAA tiếp tục đóng góp thông qua việc xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA trên nền tảng tiêu chuẩn PGS Việt Nam. Bộ tiêu chuẩn bao quát nhiều lĩnh vực, từ trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên đến chế biến và vật tư đầu vào. Tiêu chuẩn hữu cơ VOAA tiếp tục có tên trong Gia đình tiêu chuẩn IFOAM, với phạm vi được ghi nhận gồm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên, chế biến và xử lý sản phẩm. Đây là bước tiến trong việc kết nối thực hành trong nước với các yêu cầu hữu cơ quốc tế.

Với sản xuất quy mô nhỏ, Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) cũng là một đóng góp đáng chú ý. Theo cách tiếp cận của IFOAM, PGS dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan, sự tin cậy và trao đổi kiến thức. Cơ chế này tạo điều kiện để người sản xuất cùng giám sát, học hỏi và chia sẻ trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, qua đó củng cố mối liên kết với người tiêu dùng.

Năm 2025, VOAA phối hợp với IFOAM châu Á tổ chức Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 (OAC 8) tại Ninh Bình, thu hút hơn 550 đại biểu từ 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc đăng cai một diễn đàn hữu cơ lớn của khu vực cho thấy vai trò kết nối ngày càng rõ hơn của Việt Nam trong mạng lưới hữu cơ châu Á.

Ở góc độ địa phương, Thái Nguyên tiếp tục cho thấy sự nối tiếp từ nền tảng ban đầu. Thông tin tại Đại hội Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên ngày 28/8/2026 cho biết, diện tích cây trồng được chứng nhận hữu cơ của tỉnh đạt gần 200 ha, trong đó chè khoảng 178 ha. Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 – 2031, cũng đánh dấu bước phát triển về tổ chức, tăng khả năng tập hợp nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế.
Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình (OAC 8) năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế.

Tiếp nối thành tựu bằng chất lượng và niềm tin

Dù đã đứng trong nhóm đầu châu Á, diện tích hữu cơ mới chiếm khoảng 1,07% đất nông nghiệp của Việt Nam. Khoảng cách giữa vị trí xếp hạng và tỷ trọng thực tế cho thấy dư địa còn lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải chú trọng chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì vùng sản xuất, thay vì chỉ chạy theo mở rộng diện tích.

Đối với nông dân, quá trình chuyển đổi đòi hỏi thời gian cải tạo đất, thay đổi tập quán canh tác, ghi chép và kiểm soát đầu vào. Để người sản xuất kiên trì, hỗ trợ cần đi cùng toàn bộ quá trình ấy, từ hướng dẫn kỹ thuật đến duy trì chứng nhận và tìm đầu ra. Liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa bền vững khi trách nhiệm và lợi ích được chia sẻ rõ ràng.

Niềm tin thị trường cần được bảo vệ bằng thông tin có thể kiểm tra. Tên gọi “hữu cơ” phải gắn với tiêu chuẩn áp dụng, quy trình được kiểm soát và sự tuân thủ trong suốt chuỗi sản xuất, chế biến, phân phối. Khi chất lượng được duy trì ổn định, người tiêu dùng mới có cơ sở lựa chọn, còn người làm đúng mới được ghi nhận xứng đáng.

Từ góc độ đó, Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp để lan tỏa kiến thức thiết thực: hiểu đúng tiêu chuẩn, biết cách nhận diện sản phẩm và thấy được công sức phía sau mỗi mùa vụ. Hoạt động tôn vinh cũng cần giúp những kinh nghiệm tốt được chia sẻ, để các mô hình hiệu quả có thêm cơ hội kết nối và phát triển.

Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh giá trị của nông nghiệp hữu cơ vượt ra ngoài hiệu quả kinh tế của từng sản phẩm, gắn với các mối quan hệ công bằng, hài hòa trong hệ sinh thái và trách nhiệm với thế hệ mai sau. Quan điểm ấy tiếp nối tinh thần của lễ phát động năm 2017, đặt con người và môi trường sống ở trung tâm của quá trình phát triển.

Hướng tới ngày 19/9/2026, sự tri ân dành cho những người làm hữu cơ cần được tiếp nối bằng sự đồng hành cụ thể. Mỗi vùng đất được chăm sóc bền bỉ, mỗi quy trình được thực hiện nghiêm túc, mỗi chuỗi liên kết giữ được niềm tin sẽ góp phần làm dày thêm thành tựu của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Đó cũng là cách để ý nghĩa của ngày hội hiện diện trong đời sống hằng ngày, từ người nông dân trên đồng ruộng đến bữa ăn của mỗi gia đình.

Thực hiện: Phạm Thông

phamthong.nnhcvn@gmail.com
Theo https://nongnghiephuuco.vn/

 

Tôm sú, cua ghẹ Việt Nam tăng trưởng mạnh

Tôm sú, cua ghẹ Việt Nam tăng trưởng mạnh

Thông tin trên được bà Kim Thu – Chuyên gia thị trường tôm (thuộc Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam) cung cấp.

Tôm sú đứng vững trên thị trường châu Âu nhờ Hiệp định EVFTA

Tôm sú được coi là sản phẩm cao cấp nhờ màu sắc, hương vị đặc biệt, kích cỡ lớn và thường được yêu thích ở các thị trường ngách tại EU như Hà Lan, Bỉ, Đức, Pháp.

Trong quý I/2022, XK tôm sú của Việt Nam sang thị trường EU ghi nhận tăng trưởng đột phá 107% với giá trị XK đạt 24 triệu USD

Bà Kim Thu chia sẻ: Tôm sú được tiêu thụ tại các thị trường bán lẻ và dịch vụ thực phẩm tại châu Âu. Năm 2020 và đầu năm 2021, tiêu thụ tôm sú tại EU chững lại do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các nhà hàng quán ăn đóng cửa để phòng dịch.

Thế nhưng, từ giữa năm 2021, thị trường dần dần mở cửa trở lại nên nhu cầu tiêu thụ tôm sú tại thị trường EU phục hồi và dự kiến vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2022.

“Lĩnh vực bán buôn và bán lẻ tại thị trường EU ưa chuộng các sản phẩm như tôm sú HLSO và tôm sú bóc vỏ cỡ 16/20 – 51/60, tôm sú HOSO cỡ 21/26. Lĩnh vực tái chế biến có nhu cầu cao với các sản phẩm tôm sú HOSO, HLSO, lột vỏ đóng block cỡ 16/20 – 51/60.

Trong phân khúc bán lẻ, các sản phẩm tôm sú lột vỏ đông lạnh chủ yếu được bán dưới dạng túi 250g – 1kg. Tôm sú HOSO semi IQF hoặc IQF được bán dưới dạng túi 250g – 1kg hoặc hộp carton từ 500g – 1kg. Phần lớn các tổ chức bán lẻ bán tôm đông lạnh dưới nhãn của riêng họ”, bà Thu tâm sự.

Hiện nay, các nhà cung cấp tôm sú cho thị trường EU gồm Bangladesh, Việt Nam, Madagascar, Indonesia, Ấn Độ và Myanmar. Các sản phẩm cạnh tranh với tôm sú trên thị trường EU như tôm chân trắng, tôm đỏ Argentina và tôm sú khai thác tự nhiên.

Theo bà Thu, trong quý đầu năm nay, xuất khẩu (XK) tôm sú của Việt Nam sang thị trường EU ghi nhận tăng trưởng đột phá 107% với giá trị XK đạt 24 triệu USD. XK tôm sú Việt Nam sang EU bắt đầu tăng trong năm 2021, các năm trước đó, XK vẫn ghi nhận giảm. Năm 2021, XK tôm sú Việt Nam sang EU đạt 98,5 triệu USD, tăng 36% so với năm 2020.

Các sản phẩm tôm sú Việt Nam chủ yếu XK sang EU trong quý đầu năm nay gồm tôm sú nguyên con tươi đông lạnh, tôm sú PD tươi đông lạnh, tôm sú bỏ đầu EZP tươi đông lạnh, tôm sú bỏ đầu HLSO EZP tươi đông lạnh, tôm sú IQF tươi đông lạnh, tôm sú PDTO hấp chín IQF, tôm sú HOSO tươi đông lạnh, tôm sú CPTO hấp đông lạnh…

Bà Thu nhấn mạnh: “Tôm sú Việt Nam trên thị trường EU có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn các nhà cung cấp đối thủ. Cùng với lợi thế từ Hiệp định EVFTA, tôm sú Việt Nam còn nhiều cơ hội tăng trưởng tại thị trường này. Với sản phẩm tôm sú đi châu Âu, doanh nghiệp cần phải đảm bảo được nhiều yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chuỗi hành trình sản phẩm và chứng nhận của bên thứ ba”.

Xuất khẩu cua ghẹ quý I/2022 đạt 52 triệu USD

Trong khi đó, tiếp nối sự tăng trưởng trong quý 4/2021, XK cua ghẹ của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tốt trong quý I/2022. Giá trị XK cua ghẹ trong quý này đạt gần 52 triệu USD, tăng 62% so với cùng kỳ năm 2021. Đây là mức cao nhất trong 5 qua, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2019, thời điểm trước khi xảy ra đại dịch Covid-19.

Số liệu thống kê xuất khẩu cua ghẹ Việt Nam

Cụ thể, Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Pháp là top 4 thị trường đơn lẻ nhập khẩu (NK) nhiều nhất cua ghẹ của Việt Nam. Trong đó, Pháp chiếm hơn 91% tổng giá trị XK.

Theo bà Thu, sau khi sụt giảm trong năm 2021, XK cua ghẹ của Việt Nam sang Trung Quốc và Hồng Kông tăng cao liên tục trong 3 tháng đầu năm 2022. Giá trị XK cua ghẹ sang thị trường này trong quý I/2022 đạt hơn 20 triệu USD, tăng 104% so với cùng kỳ.

Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã thích nghi tốt với chính sách “zero Covid” của nước này. Sự tăng trưởng cao này đã đưa Trung Quốc trở thành thị trường NK cua ghẹ lớn nhất của Việt Nam

Với thị trường Nhật Bản, XK cua ghẹ của Việt Nam đang tiếp tục tăng trưởng trong quý này. Giá trị xuất khẩu cua ghẹ sang thị trường Nhật Bản đạt gần 19 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ.

Nhật Bản hiện đang là nước NK nhiều nhất cua ghẹ của Việt Nam trong khối thị trường tham gia Hiệp định CPTPP. Và cũng là nước duy trì được sự tăng trưởng NK cua ghẹ liên tục trong 3 tháng đầu năm 2022. Trong khi đó, XK cua ghẹ sang Australia và Singapore lại có sự sụt giảm liên tục trong quý này.

Bà Thu cho biết thêm, tại khối thị trường EU, XK cua ghẹ của Việt Nam cũng phục hồi sau khi sụt giảm vào năm ngoái. Tuy nhiên, XK sang các thị trường trong khối không ổn định. Pháp hiện đang là thị trường NK cua ghẹ lớn nhất của Việt Nam trong khối thị trường này, đạt gần 1,7 triệu USD, tăng 38%.

Trên thị trường cua EU, các doanh nghiệp XK cua của Việt Nam phải cạnh tranh với các sản phẩm cua đến từ Anh, Na Uy, Madagascar, Trung Quốc, Indonesia. Các sản phẩm cạnh tranh với cua trên thị trường này gồm tôm hùm và surimi.

Đáng chú ý, XK cua ghẹ của Việt Nam sang Mỹ tăng trưởng liên tục trong quý I/2022. Giá trị XK cua ghẹ của Việt Nam sang thị trường này trong 3 tháng đầu năm 2022 đạt gần 19 triệu USD, tăng 78% so với cùng kỳ.

Mỹ đã mở cửa hoàn toàn trở lại điều này đã giúp nhu cầu tiêu thụ cua ghẹ tăng. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất và chi phí vận chuyển đường biển tăng đã đẩy giá XK tăng lên.

Nguồn: https://nongnghiephuucovn.vn/tom-su-cua-ghe-viet-nam-tang-truong-manh

Copyrights © 2019 VITAD-AGRI All Rights Reserved.

X