Tag Archives: NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ VIỆT NAM

Lúa Japonica Đồng Phú: Hành trình từ “Cánh đồng hữu cơ” đến biểu tượng Nông nghiệp Xanh Thủ đô

Ngày 13/06/2026, tại xã Hòa Phú (TP. Hà Nội), “Ngày hội lúa Japonica hữu cơ” đã diễn ra trong không khí hân hoan, khẳng định vị thế của mô hình nông nghiệp hữu cơ kiểu mẫu. Sự kiện không chỉ tôn vinh thành quả lao động của bà con nông dân mà còn là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn chiến lược của Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh trong hành trình “nâng tầm” giá trị nông sản Việt theo chuẩn quốc tế.

Tổng quan “Ngày hội lúa Japonica hữu cơ” tại Hội trường xã Hòa Phú

 Sự kết nối giữa tinh hoa đất trời và tầm nhìn doanh nghiệp

Trong không gian đậm chất quê hương với những bản tình ca về cây lúa Việt Nam, Ngày hội lúa Japonica đã quy tụ đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học và các chuyên gia đầu ngành. Sự hiện diện của ông Nguyễn Văn Vương – Trưởng Phòng Quản lý giống cây trồng – Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Vũ Xuân Hùng – Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch UBND xã Hòa Phú, ông Đỗ Xuân Tình – Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Phú, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh, bà Trịnh Thị Nguyệt – Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú, PGS.TS Mai Quang Vinh – Ủy viên Ủy banTW mặt trận tổ quốc Việt Nam – Ủy viên Hội đồng Khoa học Công ty Bảo Minh, TS Lê Quý Kha – Phó Chủ tịch Hiệp hội chuyển đổi xanh Việt Nam VGA, TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, Biên tập viên Ngọc Bamboo, Mr Việt Anh – Chủ kênh Tiktok “Anh Đoại đến đây” và một số quý vị đại biểu, các nhà khoa học, chủ doanh nghiệp cùng toàn thể bà con nông dân Đồng Phú đã minh chứng cho tầm vóc quan trọng của sự kiện đối với bức tranh nông nghiệp hiện đại.

Các đại biểu tham dự Ngày Hội

Mở đầu ngày hội, thước phim phóng sự về hành trình của giống lúa Japonica tại Đồng Phú đã chạm đến cảm xúc của nhiều người. Từ con số khiêm tốn 2 ha thử nghiệm năm 2012 rồi mở rộng lên 5 ha đại trà, qua những ngày gian khó, đến nay, vùng nguyên liệu đã mở rộng lên 65 ha. Đây không chỉ là con số về diện tích, mà là cột mốc khẳng định thành công của tư duy canh tác hữu cơ bền vững của Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú và Công ty Bảo Minh đóng vai trò là “cánh tay nối dài” đưa sản phẩm vươn xa.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu trong video phóng sự về lúa Japonica tại Đồng Phú

 

Bảo Minh và sứ mệnh “Nâng tầm” nông sản hữu cơ

Tại trung tâm của sự kiện, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh – đã có những chia sẻ đầy tâm huyết về hành trình đồng hành cùng người nông dân. Đối với Bảo Minh, mỗi hạt gạo Japonica không chỉ là nông phẩm, mà là kết tinh của sự tử tế, minh bạch và khát vọng khẳng định thương hiệu Việt trên bản đồ tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới.

Sau đó, tại cánh đồng lúa Đồng Phú, bà Hạnh Hiếu nhớ lại những ngày đầu tiếp cận nông dân Đồng Phú, khi khái niệm “nông nghiệp hữu cơ” còn xa lạ. Bằng sự kiên trì, Bảo Minh đã thuyết phục bà con ký kết hợp đồng bao tiêu, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật để đạt chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn USDA (Hoa Kỳ) – một trong những tiêu chuẩn chất lượng cao cấp bậc nhất thế giới.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu trả lời phỏng vấn tại cánh đồng lúa Đồng Phú

Điều khác biệt mà Bảo Minh mang lại không chỉ là bao tiêu đầu ra, mà là sự thay đổi tư duy sản xuất: thực hiện nông nghiệp sạch xuyên suốt từ đồng ruộng đến bàn ăn. “Chúng tôi tin rằng, với sự phối hợp chặt chẽ, Bảo Minh sẽ đưa lúa Japonica vươn lên tầm cao mới, nâng cao thu nhập cho bà con và vị thế của xã Hòa Phú”, bà Hạnh Hiếu khẳng định. Thực tế đã chứng minh, nhờ sự đồng hành này, mỗi hộ nông dân tại Đồng Phú hiện có thu nhập ổn định từ 600 – 800 triệu đồng/mùa, con số mơ ước của nhiều vùng nông nghiệp trên cả nước.

 

Đồng Phú: Hình mẫu nông nghiệp hữu cơ kiểu mẫu của Hà Nội

Phát biểu tại ngày hội, bà Trịnh Thị Nguyệt đã nói lời cảm ơn GS Phạm Tiến Dũng – nguyên chuyên gia đầu ngành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) đã đưa những giống lúa hữu cơ về trồng thử nghiệp ở đây, ban đầu là lúa Bắc thơm số 7, sau đó là Japonica J02 năm 2012, mở đường cho sự thành lập Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú vào 5 năm sau đó (2017) và có được thành quả 65 ha lúa hữu cơ chất lượng cao nơi Đồng Phú này, cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo trung ương, địa phương, các nhà khoa học, cảm ơn sự cố gắng tận tâm của bà con nông dân nơi đây đã làm nên thương hiệu lúa gạo Japonica nổi tiếng có chất lượng OPCOP 4 sao.

Bà Trịnh Thị Nguyệt Phát biểu tại ngày hội

Cũng tại đây, ông Đỗ Xuân Tình – Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Phú – đánh giá cao vai trò kết nối của Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú dưới sự dẫn dắt của bà Trịnh Thị Nguyệt. Việc kế thừa những nghiên cứu từ các nhà khoa học đi trước, đến nay gạo Japonica hữu cơ có giá thành cao hơn so với gạo thông thường, nhưng sản phẩm vẫn luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Điều này phản ánh xu hướng tiêu dùng thông minh của thị trường hiện đại, nơi người tiêu dùng sẵn sàng chi trả xứng đáng cho những sản phẩm thực sự sạch, minh bạch nguồn gốc.

Ông Đỗ Xuân Tình đánh giá cao lúa hữu cơ Japoanic

Ông Nguyễn Văn Vương – đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – nhận định: “Bà con nông dân Hòa Phú đã làm nên một sản phẩm tuyệt vời, trở thành hình mẫu nông nghiệp hữu cơ của Thủ đô Hà Nội”. Ông bày tỏ kỳ vọng mô hình này sẽ lan tỏa mạnh mẽ ra khắp vùng đồng bằng sông Hồng, không chỉ tăng diện tích mà còn nâng cao chất lượng hạt gạo.

Ông Nguyễn Văn Vương kỳ vọng mô hình lúa hữu cơ sẽ lan tỏa mạnh mẽ

 

Hướng tới tương lai: Chuyển đổi xanh bền vững

Trong bài phát biểu sau cùng, TS Lê Quý Kha (Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam VGA) đã biểu dương tinh thần “chuyển đổi xanh” tại Hòa Phú và đề cao địa thế cách ly lý tưởng cho nông nghiệp hữu cơ nơi đây. Ông đặt ra mục tiêu đầy tham vọng cho giai đoạn tới: mở rộng diện tích từ 65 ha lên 100 – 200 ha, đồng thời nâng năng suất từ 250-300 kg/sào lên 350 kg/sào thông qua việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

TS Lê Quý Kha biểu dương tinh thần “chuyển đổi xanh” tại Hòa Phú

Ngày hội khép lại với những trải nghiệm thực tế ngay tại cánh đồng Đồng Phú. Các đại biểu đã trực tiếp giao lưu với bà con nông dân đang gặt lúa, cùng thưởng thức những món ăn được chế biến từ gạo hữu cơ như cơm gạo, bánh dày… trong không gian âm nhạc đồng quê ấm cúng. Sau đó là buổi livestream trực tiếp, mang “hơi thở” của ngày hội lúa đến với hàng ngàn người tiêu dùng trên khắp cả nước.

 

Lời kết

“Ngày hội lúa Japonica” không chỉ là dịp để nhìn lại thành quả sau nhiều năm miệt mài, mà còn là lời khẳng định về sức sống bền bỉ của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Với nền tảng là sự tận tâm của người nông dân, sự hỗ trợ khoa học của các chuyên gia và tầm nhìn tiên phong từ các doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh, HTX nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú, gạo Japonica nơi đây đang viết tiếp câu chuyện về thương hiệu nông sản Việt chất lượng cao.

Đó là hành trình từ bùn đất vươn lên thành tiêu chuẩn quốc tế, là sự kết tinh của tình yêu quê hương và sự sáng tạo không ngừng nghỉ. Bảo Minh cam kết sẽ tiếp tục là “người đồng hành tin cậy”, đảm bảo sự ổn định trong chuỗi giá trị, mang hạt gạo sạch đến tận tay người tiêu dùng, để thương hiệu nông sản Việt ngày càng khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.

 

Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo MinhTâm huyết cho chất lượng; HTX nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú – Bền vững cho tương lai.

Một số hình ảnh ấn tượng trong Ngày Hội: 

             

Lúa Rươi Chí Minh: Bản Giao Hưởng Của Đất Trời và Khát Vọng Vươn Ra Thế Giới

Ngày 6 tháng 6 năm 2026, tại xã Chí Minh, một ngày nắng vàng rực rỡ, không khí tại vùng đất ven sông như náo nhiệt hơn bao giờ hết. Sự kiện “Ngày hội Lúa Rươi hữu cơ và xúc tiến thương mại các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP” không đơn thuần chỉ là một sự kiện xúc tiến thương mại, mà đó là ngày hội của lòng biết ơn, sự kế thừa và niềm tự hào của một cộng đồng nông dân đang tiên phong trong xu hướng nông nghiệp xanh bền vững.

 “Lộc trời” từ tư duy “thuận thiên”

Câu chuyện về lúa rươi Chí Minh không bắt đầu từ những máy móc hiện đại, mà bắt đầu từ việc lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên. Rươi – loài sinh vật vốn được mệnh danh là “rồng đất”, cực kỳ nhạy cảm với hóa chất và ô nhiễm môi trường. Trước đây, rươi chỉ được coi là “lộc trời” ban tặng theo con nước. Nhưng người dân Chí Minh đã không dừng lại ở đó. Họ đã biến những cánh đồng lúa truyền thống thành một hệ sinh thái tuần hoàn, nơi con rươi cùng cây lúa cùng cộng sinh, cùng lớn lên.

Sự chuyển đổi này mang đậm dấu ấn lịch sử. Video đầu chương trình đã gợi lại những ngày đầu gian khó. Bà con Chí Minh hồi nhớ lại tâm huyết của ông Trần Văn Quân – Phó Chủ tịch UBND Thành phố, người khi còn làm Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương (cũ) đã có sáng kiến đột phá: xây dựng Cống Sồi. Chính việc điều tiết nguồn nước sông từ ngoài đê vào đồng ruộng đã tạo ra sự thay đổi kỳ diệu, biến vùng đất khó canh tác thành vùng sản xuất hữu cơ đến nay quy mô lên tới 1700 ha trù phú, trong đó riêng xã Chí Minh có 478 ha sản xuất lúa kết hợp khai thác rươi, cáy, hàng năm cung cấp khoảng 2.400 tấn lúa hữu cơ và từ 500 – 600 tấn rươi, cáy thương phẩm. Doanh thu bình quân đạt từ 500 – 600 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận đạt từ 350 – 450 triệu đồng/ha/năm, cao hơn nhiều lần so với sản xuất lúa truyền thống. Hệ sinh thái này tạo nên một chỉnh thể nông nghiệp “thuận thiên” bền vững.

Toàn cảnh Hội trường “Ngày Hội Lúa Rươi”

Ngày hội của sự kết nối và những tâm hồn đồng điệu

Sự kiện ngày 6/6/2026 là điểm hội tụ của những nhà quản lý, nhà khoa học và người nông dân. Ông Nguyễn Hồng Sơn – Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, ông Nguyễn Quang Phúc – Ủy viên thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hải Phòng, ông Trần Văn Quân – Ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ Thành phố, Phó chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng, bà Lương Thị Kiểm – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hải Phòng, ông Dương Hà Hải – Bí thư đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Chí Minh, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh cùng các lãnh đạo địa phương đã có mặt để chứng kiến thành quả sau bao năm miệt mài.

Các đại biểu tham dự “Ngày Hội Lúa Rươi”

Bà Lương Thị Kiểm đã thay mặt ngành nông nghiệp bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bà con nông dân. Bà nói: “Thương hiệu lúa rươi Chí Minh đạt chuẩn OCOP 5 sao không phải là món quà từ trên trời rơi xuống, đó là kết quả của mồ hôi, công sức và đặc biệt là sự tử tế của người nông dân Chí Minh khi đã dám nói không với hóa chất, chấp nhận quy trình canh tác khắt khe để giữ lại sự tinh khiết cho hạt gạo.”

Bà Lương Thị Kiểm phát biểu khai mạc “Ngày Hội Lúa Rươi”

Khi doanh nghiệp là người bạn đồng hành

Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của ngày hội là sự xuất hiện của Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh. Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng Giám đốc Công ty, trong bài phát biểu của mình, đã không gọi bà con là “đối tác”, bà gọi họ là những người bạn, những “nghệ sĩ” trên đồng ruộng. Bản thân gia đình bà cũng đã bốn đời canh tác, khai thác lúa và rươi. Bảo Minh liên kết trực tiếp với nông dân tại các vùng bãi bồi ven sông nước lợ như và các bãi rươi tại Hải Phòng với “Mô hình liên kết 7 nhà”: Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà tổ chức sản xuất – Nhà nông – Nhà băng – Nhà bán lẻ – Nhà truyền thông để quản lý quy trình từ đồng ruộng đến bàn ăn; Cam kết 3 KHÔNG trong thu mua: Doanh nghiệp ký kết trực tiếp với các hợp tác xã và hộ nông dân ngay từ đầu vụ, không mua qua trung gian, thu mua giá ổn định và kiểm soát tuyệt đối chất lượng thóc đầu vào. Với dòng sản phẩm chủ lực: Gạo ST25 ruộng rươi (loại thượng hạng hoặc dòng hữu cơ Queen Rice); Quy trình canh tác hữu cơ (Con rươi rất nhạy cảm với hóa chất. Do đó, vùng đất trồng lúa tuyệt đối không sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học hay chất kích thích). Đất được rươi “cày bừa”, tạo độ tơi xốp tự nhiên. Do hấp thụ tinh túy từ môi trường cộng sinh đặc biệt, hạt gạo chứa hàm lượng dinh dưỡng cao vượt trội (Vitamin A, B1, B6, B12, Omega 3-6-9…). Bảo Minh cũng áp dụng triết lý “Gạo tươi” bằng phương thức “Bán đến đâu, xay xát đến đó”. Bảo Minh định kỳ đồng hành tổ chức “Lễ hội Ruộng Rươi / Ngày hội lúa rươi hữu cơ” tại Hải Phòng. Đây chính là ngày hội văn hóa sinh thái nhằm tôn vinh nông nghiệp tử tế, tổ chức các hội thi gặt lúa, bắt nơm, và nấu ăn để quảng bá “hạt ngọc trời” được tổ chức hôm nay. Bảo Minh có kênh phân phối rộng lớn, hiện diện tại hơn 8.000 điểm bán trên toàn quốc và các kênh mua sắm trực tuyến.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu cảm ơn bà con nông dân Chí Minh và lãnh đạo địa phương

Bảo Minh không chỉ đóng vai trò là nhà tài trợ mà còn là “cánh tay nối dài” đưa nông sản Chí Minh ra thị trường lớn. Lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa lãnh đạo xã Chí Minh và Bảo Minh chính là minh chứng cho một tương lai bền vững. “Chúng tôi đến đây bằng sự trân trọng giá trị mà bà con đã tạo ra. Bảo Minh cam kết sẽ đồng hành cùng người nông dân, giúp gạo rươi không chỉ là đặc sản địa phương mà còn là niềm tự hào trên các kệ hàng quốc tế”, bà Hạnh Hiếu khẳng định.

Lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa lãnh đạo xã Chí Minh và Bảo Minh

Hơi thở đồng quê – Từ hội thi đến bàn tiệc

Để mang lại không khí thân thiện và gần gũi, ngày hội đã tổ chức các hội thi đậm chất dân gian. Những hình ảnh người nông dân với nụ cười rạng rỡ tham gia “Hội thi nấu ăn truyền thống”, “Hội thi gặt lúa” hay “Hội thi đùa nơm” đã làm cho không gian ngày hội trở nên sống động. Những món ăn từ rươi như chả rươi, rươi kho niêu đất hay cơm gạo rươi thơm lừng – tất cả đều được chế biến từ những nguyên liệu sạch ngay tại đồng quê, đã thực sự chinh phục các đại biểu.

Hội thi nấu ăn Truyền thống

Sau bữa cơm thân mật, đoàn đại biểu đã cùng nhau đi thực địa. Đi giữa những cánh đồng lúa xanh mướt, tận mắt thấy những con rươi khỏe mạnh dưới lớp bùn, mới hiểu được vì sao sản phẩm này lại quý đến vậy.

Chinh phục thị trường khó tính nhất thế giới

Anh Nguyễn Văn Tuân – Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Thế hệ mới là một điển hình tiêu biểu cho tư duy làm nông nghiệp thời đại mới. Anh cho biết, con đường đưa gạo Chí Minh ra thế giới không hề trải đầy hoa hồng. Từ những ngày đầu mày mò, đến nay, anh đã liên kết chặt chẽ với Bảo Minh để xuất khẩu hàng nghìn tấn gạo hữu cơ sang thị trường EU – thị trường nổi tiếng với những tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới.

“Khi gạo Chí Minh được dán nhãn hữu cơ tại các siêu thị lớn ở Châu Âu, tôi biết mình đã thành công. Không phải thành công về lợi nhuận, mà là thành công khi khẳng định được thương hiệu của người nông dân Việt Nam”, anh Tuân tâm sự. Câu chuyện của anh cũng chính là lời khẳng định về tương lai: nông sản Việt hoàn toàn đủ sức chinh phục những vị khách khó tính nhất nếu chúng ta đi đúng con đường nông nghiệp bền vững.

Hướng tới tương lai bền vững

Ngày hội lúa rươi tại xã Chí Minh khép lại, nhưng dư âm của nó sẽ còn lan tỏa. Với sự chỉ đạo sát sao của chính quyền, sự hỗ trợ từ các chuyên gia, sự đồng hành của doanh nghiệp như Bảo Minh và lòng quyết tâm của người nông dân như anh Tuân, anh Luận (Công ty Cổ phần Nông nghiệp Thế hệ mới), anh Trung (Công ty Cổ phần Đầu tư Hải Âu Việt – đơn vị sở hữu thương hiệu Gạo Kiến Quốc và Gạo Tết Vua)… không chỉ là địa danh nông nghiệp mà đang trở thành một biểu tượng cho sự chuyển mình của nông thôn mới Việt Nam.

Gạo rươi Chí Minh không chỉ là hạt gạo, đó là bản giao hưởng của đất trời, phù sa sông và khát vọng vươn tầm thế giới. Chặng đường phía trước còn nhiều thử thách, nhưng với nền móng vững chắc ngày hôm nay, chúng ta có quyền tin vào một tương lai tươi sáng cho vùng đất “đặc sản 5 sao” này.

Một số hình ảnh ấn tượng tại “Ngày Hội Lúa Rươi”

               

Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban truyền thông VITAD-AGRI

QUYẾT ĐỊNH 885/QĐ-TTg VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH TẠI VIỆT NAM

Quyết định 885/QĐ-TTg (2020) phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, đặt mục tiêu mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển chuỗi giá trị bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Quyết định, đồng thời phân tích vai trò và những yêu cầu đối với hợp tác xã (HTX) trong lĩnh vực sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học – yếu tố then chốt của hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ.

 

  1. Giới thiệu

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch sang hướng bền vững, Quyết định 885/QĐ-TTg đóng vai trò chiến lược trong việc định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Không chỉ tập trung vào sản xuất nông sản, Quyết định còn nhấn mạnh đến hệ sinh thái đầu vào, đặc biệt là phân bón hữu cơ và chế phẩm sinh học, tạo cơ hội lớn cho các HTX tham gia chuỗi giá trị.

 

  1. Nội dung chính của Quyết định 885/QĐ-TTg

2.1. Mục tiêu tổng quát

– Phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại, bền vững, thân thiện môi trường;

– Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp;

– Tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

2.2. Các chỉ tiêu cụ thể

Chỉ tiêu

Đến năm 2025

Đến năm 2030

Diện tích đất nông nghiệp hữu cơ

1,5 – 2%

2,5 – 3%

Sản phẩm chăn nuôi hữu cơ

1 – 2%

2 – 3%

Sản phẩm thủy sản hữu cơ

0,5 – 1,5%

1,5 – 3%

Giá trị sản phẩm/ha

Tăng 1,3-1,5 lần

Tăng 1,5-1,8 lần

2.3. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách

– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về nông nghiệp hữu cơ;

– Đồng bộ hóa với tiêu chuẩn quốc tế (EU, USDA…).

(2) Phát triển đầu vào cho sản xuất hữu cơ

– Khuyến khích sản xuất:

+ Phân bón hữu cơ, phân vi sinh,

+ Chế phẩm sinh học,

+ Thuốc BVTV sinh học.

Đây là điểm then chốt liên quan trực tiếp đến HTX sản xuất đầu vào.

(3) Tổ chức sản xuất theo chuỗi

  • Xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ tập trung;
  • Liên kết HTX – doanh nghiệp – nông dân – nhà khoa học;
  • Phát triển chuỗi giá trị từ sản xuất → chế biến → tiêu thụ.

(4) Khoa học công nghệ và chuyển giao

– Ứng dụng:

+ Công nghệ sinh học,

+ Công nghệ vi sinh,

+ Công nghệ số trong quản lý sản xuất hữu cơ.

(5) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

– Tăng cường đào tạo kỹ thuật sản xuất hữu cơ;

– Nâng cao năng lực cho HTX, doanh nghiệp.

(6) Xúc tiến thương mại và thị trường

– Hỗ trợ xây dựng thương hiệu;

– Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;

– Truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sản phẩm.

2.4. Chính sách hỗ trợ

– Hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;

– Hỗ trợ đào tạo, tập huấn;

– Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;

– Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại;

– Huy động nguồn lực từ ngân sách + xã hội hóa.

 

  1. Vai trò của HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học

HTX không chỉ là đơn vị sản xuất mà còn là:

– Nhà cung cấp đầu vào chiến lược cho nông nghiệp hữu cơ;

– Trung tâm chuyển giao công nghệ vi sinh;

– Cầu nối giữa nghiên cứu – sản xuất – thị trường.

Các sản phẩm chính:

– Phân hữu cơ truyền thống (compost);

– Phân hữu cơ vi sinh (có chủng vi sinh vật hữu ích);

– Chế phẩm sinh học (EM, Trichoderma, Bacillus, enzyme…).

 

  1. Lưu ý quan trọng cho HTX sản xuất phân bón và chế phẩm sinh học

4.1. Tuân thủ pháp lý

– Sản phẩm phải:

+ Được công bố hợp quy / đăng ký lưu hành;

+ Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;

– Không chứa:

+ Kim loại nặng vượt ngưỡng;

+ Vi sinh vật gây hại;

+ Thành phần hóa học bị cấm trong hữu cơ.

 4.2. Kiểm soát chất lượng vi sinh

– Chủng vi sinh phải:

+ Rõ nguồn gốc;

+ Có mật độ (CFU) đạt tiêu chuẩn;

– Đảm bảo:

+ Khả năng sống,

+ Hiệu quả thực tế ngoài đồng ruộng.

4.3. Chuẩn hóa quy trình sản xuất

– Xây dựng quy trình:

+ Lên men (hiếu khí/kỵ khí),

+ Ủ compost,

+ Nhân sinh khối vi sinh;

– Áp dụng tiêu chuẩn:

+ ISO

+ HACCP hoặc tương đương.

4.4. Liên kết chuỗi giá trị

– HTX cần liên kết với:

+ HTX trồng trọt hữu cơ (đầu ra sử dụng sản phẩm);

+ Doanh nghiệp phân phối;

+ Viện nghiên cứu (cải tiến công nghệ).

4.5. Định hướng thị trường

– Sản phẩm cần:

+ Phù hợp tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế;

+ Có hồ sơ kỹ thuật rõ ràng;

– đến:

+ Xuất khẩu;

+ Cung cấp cho các vùng nông nghiệp công nghệ cao.

4.6. Đổi mới công nghệ

– Ứng dụng:

+ Công nghệ nano sinh học;

+ Công nghệ enzyme;

+ Công nghệ lên men thế hệ mới;

– Tích hợp mô hình:

+ Zero Waste – tuần hoàn sinh học không phát thải.

 

  1. Thảo luận

Quyết định 885/QĐ-TTg mở ra cơ hội lớn cho HTX, nhưng cũng đặt ra thách thức:

– Yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng;

– Cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu;

– Đòi hỏi đầu tư công nghệ và quản lý.

Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt:

– HTX có thể trở thành nhà cung cấp đầu vào chiến lược,

– Góp phần định hình hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

 

  1. Kết luận

Quyết định 885/QĐ-TTg không chỉ là định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ mà còn là cơ hội chiến lược cho các HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học.

Việc tuân thủ tiêu chuẩn, đầu tư công nghệ và liên kết chuỗi giá trị sẽ giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.

Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban công nghệ 

TỔNG QUAN NGHỊ ĐỊNH 109/2018/NĐ-CP VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC

Tóm tắt (Abstract)

Nghị định 109/2018/NĐ-CP là khung pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động sản xuất, chứng nhận và thương mại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Nghị định đặt ra các nguyên tắc nghiêm ngặt về canh tác, kiểm soát đầu vào, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận, đồng thời đưa ra các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Nghị định và phân tích các yêu cầu, cơ hội cũng như lưu ý thực tiễn đối với hợp tác xã nông nghiệp trong việc ứng dụng chế phẩm sinh học.

 

  1. Giới thiệu

Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và nhu cầu tiêu dùng an toàn gia tăng. Tại Việt Nam, Nghị định 109/2018/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầu tiên quy định toàn diện về lĩnh vực này, từ sản xuất đến tiêu thụ.

Đối với các HTX nông nghiệp, đặc biệt là các mô hình canh tác công nghệ cao và tuần hoàn sinh học, việc hiểu và tuân thủ Nghị định là điều kiện tiên quyết để tham gia thị trường hữu cơ trong nước và quốc tế.

 

  1. Nội dung chính của Nghị định 109/2018/NĐ-CP

2.1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định quy định về:

  • Sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ;
  • Chứng nhận, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc;
  • Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Áp dụng cho các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và sản phẩm chế biến hữu cơ.

2.2. Nguyên tắc sản xuất hữu cơ

Các nguyên tắc cốt lõi bao gồm:

  • Không sử dụng hóa chất tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, phân bón vô cơ, chất kích thích sinh trưởng;
  • Không sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO);
  • Bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất;
  • Áp dụng phương pháp canh tác tuần hoàn, sinh học và bền vững.

2.3. Yêu cầu về đầu vào

  • Chỉ sử dụng vật tư đầu vào được phép trong sản xuất hữu cơ, bao gồm:
    • Phân bón hữu cơ, phân vi sinh;
    • Chế phẩm sinh học, vi sinh vật có lợi;
    • Thuốc bảo vệ thực vật sinh học (có nguồn gốc tự nhiên).
  • Nguồn gốc, thành phần và quy trình sản xuất của các vật tư phải được kiểm soát và công bố rõ ràng.

2.4. Chứng nhận và ghi nhãn

  • Sản phẩm hữu cơ phải được tổ chức chứng nhận được chỉ định đánh giá và cấp chứng nhận.
  • Có thể áp dụng:
    • Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)
    • Hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương (EU Organic, USDA Organic…)
  • Sản phẩm đạt chuẩn được phép gắn logo “Hữu cơ Việt Nam”.
  • Bắt buộc có hệ thống truy xuất nguồn gốc.

2.5. Hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS)

Đối với HTX hoặc nhóm nông dân:

  • Phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal Control System – ICS);
  • Theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất của từng thành viên;
  • Ghi chép nhật ký sản xuất đầy đủ và minh bạch.

2.6. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước

Nghị định quy định nhiều cơ chế hỗ trợ:

  • 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;
  • 100% chi phí khảo sát đất, nước, môi trường;
  • Hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật;
  • Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;
  • Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại.

 

  1. Vai trò của chế phẩm sinh học trong nông nghiệp hữu cơ

Chế phẩm sinh học là yếu tố trung tâm thay thế cho hóa chất trong hệ thống hữu cơ. Bao gồm:

  • Vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân;
  • Nấm đối kháng, vi khuẩn kiểm soát dịch bệnh;
  • Enzyme sinh học, chế phẩm lên men;
  • Chế phẩm cải tạo đất, xử lý môi trường.

Vai trò:

  • Cải thiện độ phì đất;
  • Tăng sức đề kháng cây trồng;
  • Giảm chi phí đầu vào dài hạn;
  • Phù hợp với mô hình Zero Waste – tuần hoàn sinh học.

 

  1. Lưu ý quan trọng đối với Hợp tác xã khi sử dụng chế phẩm sinh học

4.1. Về pháp lý

  • Chế phẩm sinh học phải:
    • nguồn gốc rõ ràng,
    • Được phép lưu hành tại Việt Nam (công bố hợp quy hoặc đăng ký).
  • Không sử dụng chế phẩm có thành phần bị cấm trong sản xuất hữu cơ.

4.2. Về kỹ thuật

  • Phải sử dụng đúng:
    • Chủng vi sinh,
    • Nồng độ,
    • Quy trình ứng dụng (đất, lá, nước).
  • Không trộn lẫn tùy tiện với hóa chất (sẽ làm mất tác dụng vi sinh).

4.3. Về quản lý nội bộ (ICS)

  • HTX cần:
    • Lập quy trình chuẩn (SOP) cho từng loại chế phẩm;
    • Ghi chép nhật ký sử dụng chi tiết;
    • Kiểm tra định kỳ từng hộ thành viên.

4.4. Về kinh tế

  • Chế phẩm sinh học thường:
    • Chi phí ban đầu cao hơn,
    • Nhưng hiệu quả dài hạn tốt hơn (giảm chi phí thuốc BVTV, cải tạo đất).
  • Cần xây dựng mô hình trình diễn để thuyết phục nông dân.

4.5. Về liên kết thị trường

  • Chỉ khi có chứng nhận hữu cơ:
    • Sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao;
    • Mới tiếp cận được thị trường xuất khẩu.
  • HTX cần liên kết với:
    • Doanh nghiệp tiêu thụ,
    • Đơn vị chứng nhận,
    • Nhà cung cấp chế phẩm uy tín.

 

  1. Thảo luận

Nghị định 109/2018/NĐ-CP tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ nhưng cũng rất chặt chẽ.
Thách thức lớn nhất đối với HTX là:

  • Chi phí chứng nhận,
  • Năng lực quản lý nội bộ,
  • Nhận thức của nông dân.

Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Nhà nước và xu hướng tiêu dùng xanh, đây là cơ hội lớn để:

  • Chuyển đổi mô hình sản xuất,
  • Tăng giá trị sản phẩm,
  • Hướng tới xuất khẩu.

 

  1. Kết luận

Nghị định 109/2018/NĐ-CP là nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Đối với HTX nông nghiệp, việc tuân thủ các quy định về đầu vào, chứng nhận và hệ thống kiểm soát nội bộ là điều kiện bắt buộc.

Việc ứng dụng chế phẩm sinh học không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chiến lược phát triển bền vững, giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.

Link tài liệu: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2018/08/109-2018-nd-cp.signed.pdf

Thực hiện: Thành Vinh

Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam

VFARM, VITAD THAM GIA “ TẾT TRỒNG CÂY” CÙNG DNCC GLOBAL

Sáng 14/3/2026, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam đã đến tham dự ngày “Tết trồng cây” tại Ba Vì – Hà Nội cùng Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global – một phần trong dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” của DNCC, do TREEBOOM – cộng đồng xanh và chống biến đổi khí hậu Net Zero của DNCC chủ trì.

Toàn cảnh “Tết trồng cây” do TREBOOM chủ trì

Về dự ngày “Tết trồng cây” này, có rất nhiều chuyên gia nông nghiệp hàng đầu khu vực phía Bắc Việt Nam:

  • Đại điện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là là ông Hy Thành Trung Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc, bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập và bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc.
  • Đại diện Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global là bà Nguyễn Thu Huyền, Giám đốc kinh doanh.
  • Đại diện Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam là TS Phạm Đình Nam, Viện Trưởng.
  • Đại diện cho Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) là PGS.TS Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 
  • Cùng các thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM, chuyên viên của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global, chuyên gia Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, thành viên Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) và các chuyên gia nông nghiệp về tham dự ngày lễ ý nghĩa này.

Lễ trồng cây đàn hương năm nay là sự kiện đánh dấu công tác Chuyển đổi Số – Đổi mới sáng tạo & Tăng trường Xanh của DNCC đồng thời là sự hợp tác toàn diện giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp số (DNCC Global) với Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam trong vai trò định hướng, đào tạo về nông nghiệp hữu cơ.

Dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” được DNCC thể hiện với sự nỗ lực thực hiện với sự tập trung tốt nhất. Sự kiện Tết trồng Cây đầu năm mới như là một bước khởi đầu dự án một cách thực sự ý nghĩa mà mọi người chung tay cùng nhau hoàn thành một dự án đầy tính nhân vân và có hiệu quả kinh tế, được cộng đồng quan tâm.

Các đại biểu của VFARM, VITAD, DNCC và VGA tham dự “Tết trồng cây”

Như đã đưa tin từ bài báo trước, VFARM tài trợ chế phẩm sinh học SungWon DX, một loại thúc đẩy cho cây và một loại xử lý môi trường cho DNCC Global sử dụng ở “Tết trồng cây” lần này, với việc tưới lót khi làm đất và tưới lá, tưới thân 500 cây đàn hương sau khi trồng. Cùng với VITAD, ba bên cũng nhất trí lập Biên bản ghi nhớ (MOU) sự hợp tác này và các điều khoản hợp tác sẽ được thảo luận để cùng nhau phát triển. Ba bên cũng thống nhất thành lập Tổ công tác để theo dõi sự sinh trưởng của cây đàn hương trong suốt dự án này.

 

Chế phẩm sinh học của VIFARM được sinh khối và tưới cho cây đàn hương

Tại “Tết trồng cây này”, bà Nguyễn Thu Huyền – Giám đốc kinh doanh Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global cùng PGS.TS Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) đã có cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Bà Huyền mong muốn dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” sẽ được VGA quan tâm giúp đỡ, từ đó tìm được tiếng nói chung với các đơn vị tham gia VGA tương tự như VFARM, VITAD.

Bà Nguyễn Thu Huyền và ông Đặng Huy Đông chuẩn bị trồng cây đàn hương

Cũng tại đây,  bà Nguyễn Thu Huyền chia sẻ việc trồng cây đàn hương có tính lâu dài, vì vậy cần trồng thêm các loại cây xen canh sẽ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của bà con nông dân Ba Vì, đồng thời góp phần chuyển đổi xanh cho Thủ đô Hà Nội, cho đất nước Việt Nam chúng ta. Để làm được điều đó, TREEBOOM và DNCC cần sự hỗ trợ về phân bón vi sinh và chế phẩm sinh học của HTX VFARM cũng như đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp của VITAD. Đại diện của VFARM là ông Hy Thành Trung và đại diện của VITAD là TS Phạm Đình Nam đã vui vẻ đồng ý.

Đại diện của VFARM và đại diện của VITAD chụp ảnh lưu niệm cùng đại diện của TREEBOM

“Lễ trồng cây” đã diễn ra trong không khí vui tươi, thân thiện và đầy hy vọng về một dự án khả thi làm xanh đất nước đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao.

Một số hình ảnh khác của lễ hội.

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

        

TẬP HUẤN “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG THEO HỆ THỐNG KINH TẾ TUẦN HOÀN BẰNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ PHÂN BÓN SINH HỌC – CHIẾN LƯỢC MARKETING SẢN PHẨM” (Ngày thứ hai)

8 giờ sáng 13/3/2026, tại Khu Bách Lộc, cụm 12 Thọ An, xã Liên Minh, thành phố Hà Nội, HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM các học viên tiếp tục khóa tập huấn: “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”.

 

Các giảng viên tham gia giảng dạy:

– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), Điều phối khóa học.

– TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

–  TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

Khóa tập huấn là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như phương pháp sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học cùng với chiến lược marketing sản phẩm.

          Toàn cảnh ngày thứ hai khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”

Mở đầu buổi sáng, TS Dinh truy bài các học viên với câu hỏi hôm trước: “Nêu những nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ của HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM” và nhận được những câu trả lời chính xác, những giải pháp khả thi để đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại đây

Một học viên trả lời chính xác câu hỏi truy bài

Kế tiếp, TS Hạnh trình bày Tổng quan về phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học bao gồm các nội dung:

  1. Khái niệm về phân bón sinh học.
  2. Thực tiễn khách quan về các loại chế phẩm sinh học.
  3. Ứng dụng và triển vọng mang lại khi phát triển nông nghiệp bằng phân bón sinh học và chế phẩm sinh học.
  4. Ý nghĩa và định hướng tương lai.

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh trình bày Tổng quan về phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học

Buổi học kết thúc vào lúc 12h00, các học viên tham dự buổi ăn trưa và trò chuyện giao lưu tại phòng ăn bên cạnh lớp tập huấn.

Sau giờ nghỉ trưa, TS Dinh giảng dạy về Marketing sản phẩm, bao gồm các nội dung:

  1. Định vị giá trị sản phẩm
  2. Xác định khách hàng mục tiêu
  3. Xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm
  4. Truyền thông và quảng bá

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa đào tạo

Xen kẽ giữa bài giảng, TS Dinh TS Dinh và TS Hạnh đã ra một số câu hỏi tương tác với các học viên về Marketing sản phẩm và nhận được nhiều ý tưởng độc đáo, có tính khả thi cao.

Một học viên nêu ý tưởng Markerting độc đáo

Sau phần giảng dạy về Marketing sản phẩm, TS Phạm Đình Nam hướng dẫn các học viên cách ủ phân hữu cơ vi sinh từ 60-70% nguyên liệu tự nhiên, đường rỉ mật và chế phẩm sinh học VFARM. Theo ông, với nhiệt độ trung bình khoảng 25-30 độ C, độ ẩm không quá cao, chỉ cần hai lần đảo đống, với thời gian từ 10-15 ngày, chúng ta sẽ có được phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao có thể bón cho cây trồng, đóng bao cất trữ hoặc đem bán.

TS Phạm Đình Nam hướng dẫn ủ phân vi sinh

          Cuối buổi học là sự xuất hiện của GS TS Nguyễn Thị Thu Hiền, người có hơn ba mươi năm kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Tại đây GS Hiền cùng với TS Nam, TS Hạnh và TS Dinh đã lần lượt trao chứng chỉ tham gia khóa tập huấn cho các học viên và chụp ảnh lưu niệm toàn khóa.

Toàn bộ Ban tổ chức, Giảng viên và Học viên chụp ảnh kỷ niệm khóa tập huấn

 

Một số hình ảnh khác của ngày tập huấn thứ hai.

  

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

 

TẬP HUẤN “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG THEO HỆ THỐNG KINH TẾ TUẦN HOÀN BẰNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ PHÂN BÓN SINH HỌC – CHIẾN LƯỢC MARKETING SẢN PHẨM” (Ngày thứ nhất)

8 giờ sáng 12/3/2026, tại Khu Bách Lộc, cụm 12 Thọ An, xã Liên Minh, thành phố Hà Nội, HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM cùng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) phối hợp tổ chức khóa tập huấn: “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”.

 

Các đại biểu và học viên tham dự:

– Đại điện cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là ông Hy Thành Trung – Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc và bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập, đơn vị tổ chức khóa tập huấn.

– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), Điều phối khóa học.

– TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

– TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.

– Cùng gần năm mươi học viên là thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, HTX Nông Nhiệp Dược Liệu Richvalley, Công Ty CP Dược Liệu Trương Dương, Liên Minh TH Global, Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global, Công ty TNHH ARBOR VITAE CO, Công Ty Cp Gạch Lego Group, Công Ty TNHH Trà Vân Bản Sen, Công ty Sơn APG cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, tiểu thương tham gia tập huấn trực tiếp.

Khóa tập huấn là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như phương pháp sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học cùng với chiến lược marketing sản phẩm.  

 Toàn cảnh ngày thứ nhất khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”

Phát biểu khai mạc khóa học, TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) đặt ra câu hỏi: “Tại sao phải làm nông nghiệp hữu cơ”, từ đó ông dẫn ra cuộc “Cách Mạng Xanh” bắt đầu từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới, bao gồm các kỹ thuật trọn gói được sử dụng nhằm tăng năng suất trên mỗi đơn vị diện tích canh tác. Tuy nhiên,  “Cách mạng xanh” – Liệu nó có xanh, khi những hậu quả đã xuất hiện sau nhiều năm sử dụng phân bón hóa học: Thoái hóa đất, Giảm đa dạng sinh học, Lạm dụng hóa chất, Ngộ độc thực  phẩm và đặc biệt là ô nhiễm môi trường. Vậy, việc làm nông nghiệp hữu cơ là hết sức bức thiết, công tác “làm xanh trở lại” đất nước không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của chúng ta. Ông hy vọng khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm” sẽ giúp cho các học viên có được những kiến thức cần thiết cho công việc nông nghiệp hữu cơ được chuẩn mực và hiệu quả, bên cạnh đó, các học viên tham gia đầy đủ khóa học sẽ được cấp chứng chỉ tham gia – chứng chỉ này bảo đảm cho bạn được công nhận là người có hiểu biết về nông nghiệp hữu cơ, thuận lợi cho việc xin cấp vốn làm “nông nghiệp xanh” và các chứng nhận liên quan như bảo hộ quyền tác giả, nhãn hiệu, logo… TS Nam cũng chúc các học viên chăm chỉ học tập và đạt được kết quả tốt nhất.

TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) phát biểu khai mạc và điều phối khóa học

Kế tiếp, TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh – chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa tập huấn – đã trình bày Tổng quan về nông nghiệp hữu cơ:

  1. Khái niệm.
  2. Nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ.
  3. Ý nghĩa và lợi ích.
  4. Cơ hội và thách thức trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn tại Việt Nam
  5. Các biện pháp quản lý đất, nước, dinh dưỡng và cây trồng trong canh tác hữu cơ.
  6. Nguyên tắc phòng trừ sâu bệnh hại trong canh tác hữu cơ.
  7. Xử lý rác thải thành đầu vào phục vụ sản xuất hữu cơ.

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa đào tạo

Ngoài ra, TS Dinh cũng đưa ra “Sơ đồ quy hoạch chức năng: Mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng”, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong NNHC theo các tiêu chí: Mục tiêu, Đầu vào, Sâu bệnh, Năng lượng và chất thải; phân tích các bước sản xuất hữu cơ theo trình tự: Lựa chọn khu vực sản xuất; lựa chọn, quản lý và sử dụng đầu vào; Kiểm soát sản xuất hữu cơ; Sơ chế – Chế biến – Bao gói – Bảo quản; Ghi nhãn.

Sơ đồ quy hoạch chức năng mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng

Buổi tập huấn đầu tiên kết thúc vào lúc 12h00, các học viên tham dự buổi ăn trưa và trò chuyện giao lưu tại phòng ăn bên cạnh lớp tập huấn.

Sau giờ nghỉ trưa, TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh – chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa tập huấn – đã giảng giải Tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận sản phẩm hữu cơ, bao gồm các nội dung:

  1. Một số tiêu chuẩn hữu cơ trên thế giới (JAS, USDA, EU).
  2. Tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất hữu cơ tại Việt Nam.
  3. Quy trình chứng nhận hữu cơ ở Việt Nam.

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh giảng giải Tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận sản phẩm hữu cơ

          Cũng trong buổi học này TS Dinh đã ra cho các học viên tham quan HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM, đồng thời ra bài tập về nhà cho các học viên: “Bạn nhận xét về những nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm nông nghiệp hữu cơ của VFARM từ các nông trại xung quanh”.

Hai giảng viên cùng các học viên tham quan HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM

Trong ngày tập huấn đầu tiên, TS Dinh và TS Hạnh đã ra một số câu hỏi tương tác với các học viên và nhận được nhiều câu trả lời thú vị.

Buổi tập huấn thứ hai kết thúc vào lúc 17h00. Nhiều học viên còn nán lại hỏi thêm các giảng viên nhiều câu hỏi liên quan đến bài học, hứa hẹn một ngày tập huấn kế tiếp sẽ rất thú vị.

Một số hình ảnh khác của ngày tập huấn đầu tiên.

 

  

 

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

CÂY ĐÀN HƯƠNG – NÔNG SẢN ORGANIC CỦA TƯƠNG LAI

Sáng 6/3/2026, Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam đã kết hợp với Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global và Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM tổ chức cuộc họp triển khai dự án trồng cây đàn hương trên địa bàn Ba Vì – Hà Nội.

       Toàn cảnh cuộc họp mặt ba bên về chế phẩm sinh học cho cây đàn hương

Các đại biểu tham dự:

– Đại diện Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI) là TS Phạm Đình Nam, Viện Trưởng.

– Đại diện Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global là bà Nguyễn Thu Huyền, Giám đốc kinh doanh.

– Đại điện cho Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc.

– Cùng các Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành công nghệ sinh hóa và tin học của Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, các chuyên viên của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global và thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM về tham dự Cuộc họp.

Cuộc họp là sự kiện đánh dấu bước đầu trong hợp tác nghiên cứu, sản xuất và phát triển lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp số (DNCC Global) với Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam trong vai trò định hướng, đào tạo về nông nghiệp hữu cơ. 

Tiến sĩ Phạm Đình Nam – Viện Trưởng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc cuộc họp

Phát biểu khai mạc Cuộc họp. Tiến sĩ Nam cho biết, hiện nay công nghệ sinh học, trong đó đặc biệt là nghiên cứu sản xuất các chế phẩm vi sinh đang rất được quan tâm, vì đây là nguồn cung cấp dinh dưỡng, chăm sóc, bảo vệ cây trồng, thân thiện với môi trường, bên cạnh phân hữu cơ… Như vậy ứng dụng chế phẩm vi sinh của Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM cho nuôi trồng cây đàn hương không chỉ hữu ích cho bà con nông dân mà còn giúp cải thiện môi trường sống, đặc biệt là giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí, phù hợp với định hướng nông nghiệp hữu cơ của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global. TS Nam giới thiệu VFARM sẽ là nhà tài trợ phân bón hữu cơ để DNCC Global sử dụng cho dự án trồng cây đàn hương trong chương trình Tết trồng cây của DNCC Global sắp tới vào ngatf 14/3/2026.

Ông cũng chia sẻ những kinh nghiệm về nông nghiệp hữu cơ của Viện cũng như cá nhân ông trong gần ba mươi năm qua, chỉ ra những ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ theo Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018; Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030; các cách thức đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền tác giả, chứng nhận GlobalGAP, chứng nhận hữu cơ trong nước và quốc tế…

Bà Nguyễn Thu Huyền mong muốn được hợp tác lâu dài với VITAD và VFARM

Đáp lại, bà Nguyễn Thu Huyền rât vui khi được gặp và hợp tác cùng Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam. Bà cho rằng “Khi những người tâm huyết gặp nhau, những hạt mầm lớn bắt đầu được gieo”. DNCC GLOBAL tuy mới bước vào lĩnh vực nông nghiệp chưa lâu, nhưng luôn tự tin vào tầm nhìn, chiến lược và khát vọng kiến tạo một nền nông nghiệp bền vững. Chính vì vậy, DNCC Global luôn nhận được sự ủng hộ và đồng hành từ nhiều lãnh đạo, chuyên gia đầu ngành. Bà cũng bày tỏ mong muốn được là đối tác lâu dài với Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam cũng như Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM. Cũng tại đây, bà Phượng, chánh văn phòng DNCC GLOBAL bày tỏ sự mong muốn việc trồng cây đàn hương và các loại cây xen canh sẽ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của bà con nông dân Ba Vì, đồng thời góp phần chuyển đổi xanh cho Thủ đô Hà Nội, cho đất nước Việt Nam chúng ta.

Chế phẩm sinh học SungWon được trưng bày tại Cuộc họp

 Kế tiếp, bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM trình bày cụ thể chức năng và kỹ thuật bón chế phẩm sinh học cho cây đàn hương. Theo đó, chế phẩm sinh học của Hợp tác xã được sản xuất dựa trên công nghệ độc quyền của SungWon Hàn Quốc không chỉ hiệu quả trong nuôi trồng cây ăn quả, các loại rau mà còn cải thiện môi trường rõ rệt, cải tạo, giải độc đất; giải độc khí, làm sạch hồ ao, sông suối; phân hủy rác thải; cải thiện hệ sinh vật đất, thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, làm đệm lót sinh học hay xử lý môi trường, khử mùi hôi… Chế phẩm sinh học này sinh khối lên 50 lần cho bón lót trước khi trồng (5 lít pha thành 250 lít), còn khi tưới cây tưới lá thì loãng hơn, tức là sinh khối lên 100 lần (5 lít pha thành 500 lít). Dựa vào quy trình ươm trồng cây đàn hương do Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, bà Nhàn khẳng định sự phù hợp của chế phẩm sinh học SungWon đối với loại cây này, đồng thời mời các nhân viên của DNCC GLOBAL cùng tham gia khóa học về Nông nghiệp hữu cơ tại VFARM trong 02 ngày 12 và 13/3/2026 tới đây. Bà Nguyễn Thu Huyền đã vui vẻ nhận lời.

Bà Võ Thị Thanh Nhàn đã trao tặng 02 can chế phẩm sinh học SungWon DX cho bà Nguyễn Thu Huyền

Sau cuộc thảo luận, bà Võ Thị Thanh Nhàn đã trao tặng 02 can chế phẩm sinh học SungWon DX, một loại thúc đẩy cho cây và một loại xử lý môi trường cho bà Nguyễn Thu Huyền. Ba bên cũng nhất trí sẽ lập Biên bản ghi nhớ (MOU) sự hợp tác này và các điều khoản hợp tác sẽ được thảo luận, thống nhất để cùng nhau phát triển.

Cuối cuộc họp, ba bên đã cùng nhau chụp ảnh lưu niệm tại sảnh tòa nhà 24 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

 

V Standard – Phần mềm hữu hiệu ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận Nông nghiệp hữu cơ

Sáng 13/12/2025, tại tầng 6 – số 555 Lạc Long Quân – Tây Hồ – Hà Nội, Viện Nghiên cứu ứng dụng Xử lý môi trường (IET) cùng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) và Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) phối hợp tổ chức khóa học “Giới thiệu tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về Nông nghiệp hữu cơ và hướng dẫn sử dụng phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP”.

Toàn cảnh khóa học “Giới thiệu tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về NNHC và hướng dẫn sử dụng phần mềm ghi chép V-Standard”   

Các đại biểu tham dự:

– TS Lê Văn Hưng – Đại diện Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET), chủ trì khóa học.

– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), đồng chủ trì.

– ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, quản lý chương trình chứng nhận JAS và TCVN Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học.

– ThS Đoàn Trung Dũng, quản lý chương trình chứng nhận EU chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Giảng viên.

– Cùng gần một trăm học viên là chuyên gia nông nghiệp đến từ Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), VITAD-AGRI, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM, Công ty CP Đầu tư Tiến Đông cùng một số doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) nông nghiệp tham gia trực tiếp và trực tuyến.

Khóa học là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu cả tiêu chuẩn về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như áp dụng phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

PGS. TS Lê Văn Hưng – Đại diện Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET), chủ trì khóa học phát biểu khai mạc khóa học

Phát biểu khai mạc khóa học. PGS.TS Lê Văn Hưng cho biết: Để phục vụ cho công tác chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ và an toàn, cần hiểu rõ về Tiêu chuẩn hữu cơ trong nước cũng như một số thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như EU hay Nhật Bản. Muốn làm được điều này, điều bức thiết là cần có một phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất. Vì vậy, Viện Nghiên cứu Ứng dụng xử lý môi trường (IET) đã thống nhất phối hợp của Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) về việc tổ chức khóa bồi dưỡng và giới thiệu về Tiêu chuẩn TCVN, JAS, EU về NNHC, sản xuất an toàn theo VietGAP và hướng dẫn sử dụng phần mềm V- Standard phục vụ cho công tác chứng nhận sản phẩm theo các tiêu chuẩn trên. Đây là dự án số hóa quản lý tiêu chuẩn nông nghiệp, hỗ trợ nông dân, HTX và các bên liên quan tuân thủ tiêu chuẩn, minh bạch truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị nông sản qua website & mobile app. Khóa học này sẽ hướng dẫn thực hành sử dụng nền tảng V-Standard (ghi chép nhật ký, quản lý hoạt động sản xuất, …) và quy trình truy xuất nguồn gốc.

ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học

Kế tiếp, ThS Nguyễn Thị Hải Xuân, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Điều phối khóa học – đã trình bày sơ lược về chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn JAS, TCVN và giới thiệu Giảng viên của khóa học là ThS Đoàn Trung Dũng, chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) bắt đầu chương trình đào tạo.

ThS Đoàn Trung Dũng – chuyên viên Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) – Giảng viên khóa học.

Trong phần đầu chương trình, ThS Dũng đã giới thiệu về các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 11041), tiêu chuẩn Nhật Bản (JAS) và quy định của EU (Reg.2018/848) về Nông nghiệp hữu cơ. Phần trình bày khá chi tiết, từ các nguyên tắc trong sản xuất cho đến các bước chính trong sản xuất NNHC. Ông đưa ra “Sơ đồ quy hoạch chức năng: Mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tưởng”, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong NNHC theo các tiêu chí: Mục tiêu, Đầu vào, Sâu bệnh, Năng lượng và chất thải; phân tích các bước sản xuất hữu cơ theo trình tự: Lựa chọn khu vực sản xuất; lựa chọn, quản lý và sử dụng đầu vào; Kiểm soát sản xuất hữu cơ; Sơ chế – Chế biến – Bao gói – Bảo quản; Ghi nhãn.

Sơ đồ quy hoạch chức năng mô hình canh tác hữu cơ tuần hoàn lý tường

Phần tiếp theo, ThS Dũng giảng giải về sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn/quy định hữu cơ. Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi nó giúp các DN, HTX nông nghiệp nắm được các yêu cầu cho sản phẩm của mình tùy theo nhu cầu phân phối trong nước hay xuất khẩu sang đất nước/khu vực nào. Sự khác biệt về: Cơ chế quản lý; Hiệu lực giấy chứng nhận; Đối tượng được chứng nhận; Vật tư đầu vào; Quá trình sản xuất; Thời gian chuyển đổi; Ghi nhãn và Bán hàng được ông phân tích và giảng dạy kỹ càng. Những điểm nổi bật nhất của sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn là: Không có cơ chế tương đương mà chỉ có thừa nhận song phương và hiệu lực giấy chứng nhận (TCVN 11041: Tối đa 02 năm; JAS: Không có thời hạn; EU: Tối đa 03 năm).

Sau khi kết thúc bài giảng về các tiêu chuẩn hữu cơ, Giảng viên khóa học – ThS Đoàn Trung Dũng đã nhận được một số góp ý và câu hỏi từ phía các học viên, trong đó hai vấn đề “nổi cộm” hiện nay. Tiến sĩ hóa hữu cơ Nguyễn Văn Ngọc – đại diện Công ty CP Đầu tư Tiến Đông (chuyên sản xuất kinh doanh phân bón hữu cơ) cho rằng việc tìm kiếm tổ chức cấp giấy chứng nhận hữu cơ khá mất thời gian, trong khi thời hạn của giấy chứng nhận chỉ là hai năm, sau hai năm phải cấp lại. Bà Võ Thị Thanh Nhàn – đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao địa sinh thái VFARM (chuyên sản xuất kinh doanh chế phẩm sinh học và sàn phẩm nông nghiệp sạch) phản ánh tình trạng trà trộn các sản phẩm không sạch vào các sản phẩm hữu cơ gây nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và thu nhập của các DN, HTX NNHC chân chính nhưng hiện chưa có lực lượng kiểm tra xử phạt kịp thời.

ThS Dũng đã trả lời, tuy quy định thời gian hiệu lực giấy chứng nhận ở mỗi nước một khác, nhưng cả EU (Italy 03 năm, Pháp và Đức 01 năm), JAS (vô thời hạn) hay TCVN (02 năm) nhưng đều có điểm chung là yêu cầu giám sát kiểm tra sự tuân thủ hàng năm của tổ chức chứng nhận/tổ chức có thẩm quyền. Trong trường hợp vi phạm, giấy chứng nhận sẽ bị thu hồi hoặc đình chỉ ngay lập tức, bất kể thời hạn ghi trên giấy còn bao lâu. Giá trị thực sự nằm ở việc duy trì hệ thống quản lý hữu cơ hàng ngày để vượt qua các kỳ kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ hàng năm. Riêng với tiêu chuẩn JAS của Nhật Bản, tính kỷ luật trong việc duy trì hồ sơ là yếu tố sống còn của DN/HTX vì họ không dùng cơ chế hết hạn rồi cấp lại như Việt Nam hay EU.

Đối với tình trạng trà trộn các sản phẩm không sạch vào các sản phẩm hữu cơ, ThS Dũng giải thích hiện Nhà nước và các cơ quan chức năng đang tìm phương án giải pháp giảm thiểu, ngăn chặn tình trạng này và sẽ dần đưa vào luật hóa. Một trong những giải pháp là tạo ra phần mềm Vi-Standard ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP mà chúng ta sẽ được cài đặt và hướng dẫn sử dụng sau giờ giải lao.         

TS Phạm Đình Nam giới thiệu về mô hình Nông nghiệp công nghệ cao Hikari Đà Lạt

Sau giờ giải lao, TS Phạm Đình Nam dành ít phút giới thiệu về mô hình Nông nghiệp công nghệ cao Hikari Đà Lạt với nhà máy chế xuất lớn thứ ba Đông Nam Á và vùng trồng lên tới 250ha, trong đó có sản phẩm thạch rau quả chính là đồ ăn nhẹ mà các học viên được thưởng thức trong giờ giải lao. Theo ông, những tập đoàn nông nghiệp lớn như Hikari sẽ rất cần một phầm mềm quản lý tiêu chuẩn nông nghiệp, hỗ trợ nông dân, HTX và các bên liên quan tuân thủ tiêu chuẩn, minh bạch truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị nông sản như V-Standard.

Hoàn toàn nhất trí với ý kiến của TS Nam, Giảng viên khóa học – Ths Dũng dẫn bài học sang phần hai: Hướng dẫn sử dụng V-Standard – phần mềm ghi chép lịch sử quá trình sản xuất phục vụ cho công tác chứng nhận của bên thứ 3 cho các sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn trên và tiêu chuẩn VietGAP:

– Bước 1, cài đặt phần mềm V-Standard thông qua mã QR hoặc đường link https://onelink.to/zhwysm .

– Bước 2, đăng ký tài khoản, người sử dụng cần đăng ký các thông tin theo bảng, trong đó các thông tin đánh dấu * không được để trống.

– Bước 3, đăng nhập tài khoản đã đăng ký.

– Các bước tiếp theo được thực hiện thông qua giao diện tương đối dễ dàng nhập liệu: Xem tiêu chuẩn, Ghi nhật ký; Quản lý; Hồ sơ cá nhân. Các mục này được phân nhánh rất dễ sử dụng, cập nhật.

ThS Dũng vừa giảng giải, hướng dẫn vừa cho các học viên trực tiếp và học viên online cài đặt và sử dụng thử phần mềm này.

Giao diện trang chính của phần mềm

Do thời lượng có hạn, buổi học kết thúc vào lúc 11h45’, sau khi tất cả các học viên đều tải xong phần mềm V-Standard, cài đặt, đăng ký tài khoản, đăng nhập thành công và sử dụng sơ bộ một số hạng mục chính của phần mềm, thực hiện phiếu điều tra về trải nghiệm phần mềm này.

Các thành viên tham dự trực tiếp chụp ảnh lưu niệm cuối buổi học

Sau buổi học, các thành viên tham dự trực tiếp buổi học đã ngồi lại cùng nhau thảo luận thêm về buổi học. Có một vài ý kiến cho rằng phần mềm V-Standard dễ sử dụng và đặc biệt hữu ích ở phần thư viện các tiêu chuẩn, thuận tiện cho tra cứu, nhất là các phần tiêu chuẩn/quy định của nước ngoài như EU, JAS đều đã được dịch sang Tiếng Việt; tuy nhiên giao diện chưa được bắt mắt và hơi nhiều bước thao tác, có thể gây ra thiếu sót hoặc lỗi. ThS Dũng và ThS Xuân rất vui và mong nhận được những góp ý giúp QUACERT sớm hoàn thiện phần mềm này. Ban tổ chức khóa học đề xuất tổ chức những cuộc hội thảo liên quan đến NNHC và các phần mềm ứng dụng hiện đại phù hợp với ngành nghề này trong tương lai, đồng thời cũng mong muốn sẽ có thêm buổi bồi dưỡng tương tự trong thời gian tới nhằm phổ biến kiến thức liên quan đến NNHC và sớm đưa phần mềm V-Standard sau khi hoàn thiện vào áp dụng hiệu quả tại đơn vị chủ quản của các học viên tham gia cũng như các DN, HTX nông nghiệp khác trên toàn quốc.

Dưới đây là một số hình ảnh khác của buổi học.

 

  

  

Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)

Tối ưu chi phí, làm giàu từ mô hình nông nghiệp tuần hoàn

ĐÀ NẴNG – Tận dụng lợi thế địa phương và tư duy sáng tạo, nhiều nông dân Đà Nẵng đang từng bước làm giàu từ mô hình nông nghiệp tuần hoàn, chi phí thấp mà hiệu quả cao.

 

Gần 15 năm gắn bó với nghề nông, chị Nguyễn Thị Nhinh (thôn An Châu, xã Hòa Vang) đã xây dựng thành công mô hình nông nghiệp tuần hoàn cho hiệu quả cao. Xuất phát điểm chỉ với vài nghìn mét vuông đất và 8 con dê giống được địa phương hỗ trợ vào năm 2010, đến nay, chị đã sở hữu trang trại rộng gần 2 ha kết hợp trồng trọt và chăn nuôi.

Chị Nguyễn Thị Nhinh chăm sóc đàn dê tại trang trại chăn nuôi kết hợp trồng trọt theo mô hình tuần hoàn ở xã Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Ảnh: Phạm Huy.

Chị Nguyễn Thị Nhinh chăm sóc đàn dê tại trang trại chăn nuôi kết hợp trồng trọt theo mô hình tuần hoàn ở xã Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Ảnh: Phạm Huy.

Ban đầu, chị Nhinh trồng thanh long ruột đỏ trên diện tích 1.000 m² và chăn nuôi dê theo hướng tự nhiên. Nhận thấy tiềm năng phát triển, chị mạnh dạn vay 370 triệu đồng từ ngân hàng và tổ phụ nữ thôn để mở rộng quy mô sản xuất, mua thêm bò, xây chuồng trại, trồng thêm các loại cây có giá trị như mãng cầu, chuối lùn, rau ăn lá…

Đặc biệt từ năm 2017, chị quyết định chuyển đổi toàn bộ diện tích trồng cây kém hiệu quả sang trồng cỏ làm thức ăn cho vật nuôi. Song song đó, chị đầu tư xây 12 bể với diện tích 100 m² để nuôi trùn quế để vừa xử lý phân bò, phân dê, vừa tạo ra nguồn đạm tự nhiên cho vật nuôi.

Hiện trang trại của chị có hơn 100 con dê, 5 con bò, hơn 200 con gà, hơn 1 ha trồng cỏ và 200 m² trồng rau các loại. Trung bình 3 tháng chị thu 4 tạ phân chuồng để nuôi trùn quế. Mỗi năm, 12 bể trùn quế cho 5 đợt thu hoạch với sản lượng khoảng 180 kg/đợt. Trùn quế được dùng làm thức ăn cho gà, dê, bò, phần còn lại bán ra thị trường với giá 70.000 đồng/kg giun và 2.000 đồng/kg phân.

“Mô hình này giúp tôi giảm đáng kể chi phí thức ăn, tăng giá trị sản phẩm và hạn chế ô nhiễm môi trường. Dù thị trường biến động tôi vẫn có nguồn thu ổn định. Doanh thu trung bình mỗi năm từ 250 – 300 triệu đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi ròng 130 – 150 triệu đồng”, chị Nhinh chia sẻ.

Sâu canxi góp phần tái chế phế phẩm nông nghiệp, tạo nguồn thức ăn sạch và thân thiện với môi trường. Ảnh: Phạm Huy.

Sâu canxi góp phần tái chế phế phẩm nông nghiệp, tạo nguồn thức ăn sạch và thân thiện với môi trường. Ảnh: Phạm Huy.

Thời gian tới, chị dự định mở rộng quy mô chăn nuôi, cải tạo chuồng trại, đưa cơ giới hóa vào sản xuất để nâng cao năng suất và giữ gìn vệ sinh môi trường.

Anh Nguyễn Quang Phú ở phường Hòa Khánh thì chọn hướng đi mới là đầu tư nuôi sâu canxi – sinh vật có vòng đời ngắn, ít tốn chi phí nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

 

Sâu canxi là ấu trùng của ruồi lính đen, có giá trị cao trong chăn nuôi. Giai đoạn trưởng thành hoặc sau lột xác, sâu để lại lớp vỏ chứa hàm lượng canxi dồi dào. Cả sâu và vỏ đều có thể làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm.

Bắt đầu từ năm 2023, anh Phú đầu tư mô hình nuôi sâu canxi trên diện tích 100 m². Dù gặp không ít khó khăn do giai đoạn đầu sâu bò ra khỏi khay, chết bất thường, song anh vẫn kiên trì nghiên cứu, điều chỉnh điều kiện nuôi, nhiệt độ và thức ăn phù hợp.

Cơ sở vật chất để nuôi sâu khá đơn giản. Khay nuôi ấu trùng, lồng nuôi ruồi rộng khoảng 15 m³, khung sắt bọc vải mùng để ruồi giao phối và đẻ trứng. Trung bình 1 gram trứng sâu sẽ cho ra 2,5 – 3 kg sâu sau 15 – 20 ngày. Với 1 kg trứng mỗi năm, anh thu được khoảng 2,5 – 3 tấn sâu canxi. Giá bán 30 gram trứng là 170.000 đồng, 1 kg sâu 30.000 đồng, 1 kg phân sâu 7.000 đồng.

Khu nuôi trùn quế - một phần trong mô hình nông nghiệp tuần hoàn giúp tái sử dụng nguồn phân chuồng hiệu quả. Ảnh: Phạm Huy.

Khu nuôi trùn quế – một phần trong mô hình nông nghiệp tuần hoàn giúp tái sử dụng nguồn phân chuồng hiệu quả. Ảnh: Phạm Huy.

“Tôi quyết định gắn bó với mô hình này vì thấy rõ lợi ích kép, vừa xử lý được phế phẩm nông nghiệp, vừa làm thức ăn sạch, giàu dinh dưỡng cho vật nuôi. Gia đình tôi nuôi nhiều gà, vịt, từ khi dùng sâu canxi làm thức ăn, vật nuôi ít bệnh, chất lượng thịt ngon hơn, chi phí thức ăn giảm tới 70 – 80%”, anh Phú cho biết.

Hiện mỗi tháng anh Phú có thu nhập ổn định khoảng 8 – 10 triệu đồng từ việc bán trứng sâu, sâu trưởng thành và phân sâu. Đây là mô hình phù hợp với diện tích nhỏ, dễ nhân rộng, đặc biệt ở các khu vực đô thị có quỹ đất hạn chế.

Từ hai mô hình thực tế của chị Nhinh và anh Phú, có thể thấy phát triển nông nghiệp theo hướng tuần hoàn, tối ưu chi phí đang mở ra hướng đi hiệu quả cho nông dân Đà Nẵng. Không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình, mô hình còn góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng.

Trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng tăng, đất sản xuất ngày càng thu hẹp, những mô hình sử dụng hợp lý diện tích và nguồn lực như trên cần được nhân rộng, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối tiêu thụ và truyền thông mạnh mẽ, hướng đến nền nông nghiệp xanh, thông minh và phát triển bền vững.

 

Theo nongnghiep.vn

Copyrights © 2019 VITAD-AGRI All Rights Reserved.

X