Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9: Hành trình vun đắp niềm tin và giá trị bền vững
![]() |
| Lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á tại Thái Nguyên ngày 19/9/2017, dấu mốc cộng đồng hữu cơ lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ Việt Nam. |
Khởi nguồn từ một lời kêu gọi vì cộng đồng
Tháng 9/2016, tại Hội nghị thượng đỉnh các chính quyền địa phương châu Á về phát triển nông nghiệp hữu cơ lần thứ hai ở Goesan, Hàn Quốc, đại biểu các nước thống nhất lựa chọn ngày 19/9 hằng năm là Ngày Hữu cơ châu Á. Hưởng ứng sáng kiến này, ngày 19/9/2017, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức lễ phát động hưởng ứng Ngày Nông nghiệp hữu cơ châu Á lần thứ nhất.
Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tỉnh Thái Nguyên, đại diện IFOAM châu Á cùng hàng trăm đại biểu. Với sự đồng thuận của các đại biểu, ngày 19/9 được lựa chọn làm Ngày Hữu cơ Việt Nam, gắn hoạt động của cộng đồng trong nước với phong trào hữu cơ khu vực.
![]() |
| TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA nhấn mạnh Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp tôn vinh, kết nối và lan tỏa trách nhiệm của cộng đồng đối với con người và môi trường. Trong ảnh: TSKH. Hà Phúc Mịch phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024. |
Việc lựa chọn Thái Nguyên làm nơi phát động mang ý nghĩa đặc biệt. Phát biểu tại lễ phát động (năm 2017), TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA đã nhắc lại mô hình chè hữu cơ được xây dựng từ năm 1998 tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời điểm đó. Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nhà khoa học và cơ quan chuyên môn, đây là một trong những mô hình sản xuất hữu cơ sớm ở Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho quá trình phát triển sau này.
Từ những người trồng chè tiên phong đến các nhóm nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp lựa chọn sản xuất hữu cơ, điểm gặp nhau là mong muốn tạo ra sản phẩm đáng tin cậy, bảo vệ đất đai và gìn giữ môi trường sống. Ngày 19/9 vì thế mang ý nghĩa ghi nhận những nỗ lực bền bỉ ấy, đồng thời tạo cơ hội để người sản xuất gặp gỡ nhà khoa học, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Ngay tại lễ phát động năm 2017, Chủ tịch VOAA đã bày tỏ niềm tin ngày hội hữu cơ Việt Nam sẽ được tiếp nối hằng năm, “không bao giờ ngừng và không có lần cuối”. Đó là kỳ vọng về một phong trào được duy trì bằng hành động thường xuyên, từ đồng ruộng đến thị trường.
Đến lễ kỷ niệm năm 2024, thông điệp tôn vinh, tri ân, chia sẻ kiến thức và kết nối những người làm hữu cơ tiếp tục được nhấn mạnh. Qua các dấu mốc, Ngày Hữu cơ Việt Nam trở thành dịp nhắc lại trách nhiệm chung: người sản xuất thực hành đúng tiêu chuẩn, doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, người tiêu dùng đồng hành với những sản phẩm được kiểm chứng.
![]() |
| Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 là dịp tôn vinh những người làm hữu cơ, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị của nền nông nghiệp bền vững. Ảnh minh họa. |
Những bước tiến về chính sách, sản xuất và hội nhập
Một thành tựu quan trọng của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam là từng bước hình thành nền tảng pháp lý và tiêu chuẩn. Nếu tại lễ phát động năm 2017, việc xây dựng chính sách riêng cho hữu cơ còn là nhiệm vụ đang được thúc đẩy, thì ngày 29/8/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ.
Tiếp đó, Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã xác lập định hướng dài hạn. Cùng với bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041, các văn bản này tạo cơ sở để tổ chức sản xuất, chứng nhận, quản lý chất lượng và triển khai chính sách hỗ trợ. Nông nghiệp hữu cơ có thêm điều kiện để phát triển theo những yêu cầu thống nhất, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị nông sản.
Theo báo cáo The World of Organic Agriculture 2026, do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ và IFOAM – Organics International công bố, năm 2024 Việt Nam có 125.045 ha đất nông nghiệp hữu cơ, chiếm khoảng 1,07% diện tích đất nông nghiệp và đứng thứ 5 châu Á; số nhà sản xuất hữu cơ đạt 65.466.
Báo cáo còn ghi nhận 17.946 tấn sản phẩm hữu cơ từ Việt Nam vào Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ trong năm 2024. Số liệu này phần nào cho thấy khả năng tham gia vào những thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc của sản phẩm hữu cơ của Việt Nam.
![]() |
| Nhóm sản xuất hữu cơ PGS ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ). |
Trong quá trình chuẩn hóa, VOAA tiếp tục đóng góp thông qua việc xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA trên nền tảng tiêu chuẩn PGS Việt Nam. Bộ tiêu chuẩn bao quát nhiều lĩnh vực, từ trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên đến chế biến và vật tư đầu vào. Tiêu chuẩn hữu cơ VOAA tiếp tục có tên trong Gia đình tiêu chuẩn IFOAM, với phạm vi được ghi nhận gồm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái tự nhiên, chế biến và xử lý sản phẩm. Đây là bước tiến trong việc kết nối thực hành trong nước với các yêu cầu hữu cơ quốc tế.
Với sản xuất quy mô nhỏ, Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) cũng là một đóng góp đáng chú ý. Theo cách tiếp cận của IFOAM, PGS dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan, sự tin cậy và trao đổi kiến thức. Cơ chế này tạo điều kiện để người sản xuất cùng giám sát, học hỏi và chia sẻ trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, qua đó củng cố mối liên kết với người tiêu dùng.
Năm 2025, VOAA phối hợp với IFOAM châu Á tổ chức Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 (OAC 8) tại Ninh Bình, thu hút hơn 550 đại biểu từ 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc đăng cai một diễn đàn hữu cơ lớn của khu vực cho thấy vai trò kết nối ngày càng rõ hơn của Việt Nam trong mạng lưới hữu cơ châu Á.
Ở góc độ địa phương, Thái Nguyên tiếp tục cho thấy sự nối tiếp từ nền tảng ban đầu. Thông tin tại Đại hội Hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Nguyên ngày 28/8/2026 cho biết, diện tích cây trồng được chứng nhận hữu cơ của tỉnh đạt gần 200 ha, trong đó chè khoảng 178 ha. Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 – 2031, cũng đánh dấu bước phát triển về tổ chức, tăng khả năng tập hợp nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.
![]() |
| Hội nghị Hữu cơ châu Á lần thứ 8 tại Ninh Bình (OAC 8) năm 2025 góp phần khẳng định vai trò kết nối ngày càng rõ nét của Việt Nam trong cộng đồng hữu cơ khu vực và quốc tế. |
Tiếp nối thành tựu bằng chất lượng và niềm tin
Dù đã đứng trong nhóm đầu châu Á, diện tích hữu cơ mới chiếm khoảng 1,07% đất nông nghiệp của Việt Nam. Khoảng cách giữa vị trí xếp hạng và tỷ trọng thực tế cho thấy dư địa còn lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải chú trọng chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì vùng sản xuất, thay vì chỉ chạy theo mở rộng diện tích.
Đối với nông dân, quá trình chuyển đổi đòi hỏi thời gian cải tạo đất, thay đổi tập quán canh tác, ghi chép và kiểm soát đầu vào. Để người sản xuất kiên trì, hỗ trợ cần đi cùng toàn bộ quá trình ấy, từ hướng dẫn kỹ thuật đến duy trì chứng nhận và tìm đầu ra. Liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa bền vững khi trách nhiệm và lợi ích được chia sẻ rõ ràng.
Niềm tin thị trường cần được bảo vệ bằng thông tin có thể kiểm tra. Tên gọi “hữu cơ” phải gắn với tiêu chuẩn áp dụng, quy trình được kiểm soát và sự tuân thủ trong suốt chuỗi sản xuất, chế biến, phân phối. Khi chất lượng được duy trì ổn định, người tiêu dùng mới có cơ sở lựa chọn, còn người làm đúng mới được ghi nhận xứng đáng.
Từ góc độ đó, Ngày Hữu cơ Việt Nam là dịp để lan tỏa kiến thức thiết thực: hiểu đúng tiêu chuẩn, biết cách nhận diện sản phẩm và thấy được công sức phía sau mỗi mùa vụ. Hoạt động tôn vinh cũng cần giúp những kinh nghiệm tốt được chia sẻ, để các mô hình hiệu quả có thêm cơ hội kết nối và phát triển.
![]() |
| Các đại biểu tham dự Lễ phát động hưởng ứng Ngày Hữu cơ Việt Nam 19/9 năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh. |
Tại lễ kỷ niệm ngày Hữu cơ Việt Nam năm 2024, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh giá trị của nông nghiệp hữu cơ vượt ra ngoài hiệu quả kinh tế của từng sản phẩm, gắn với các mối quan hệ công bằng, hài hòa trong hệ sinh thái và trách nhiệm với thế hệ mai sau. Quan điểm ấy tiếp nối tinh thần của lễ phát động năm 2017, đặt con người và môi trường sống ở trung tâm của quá trình phát triển.
Hướng tới ngày 19/9/2026, sự tri ân dành cho những người làm hữu cơ cần được tiếp nối bằng sự đồng hành cụ thể. Mỗi vùng đất được chăm sóc bền bỉ, mỗi quy trình được thực hiện nghiêm túc, mỗi chuỗi liên kết giữ được niềm tin sẽ góp phần làm dày thêm thành tựu của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Đó cũng là cách để ý nghĩa của ngày hội hiện diện trong đời sống hằng ngày, từ người nông dân trên đồng ruộng đến bữa ăn của mỗi gia đình.
Thực hiện: Phạm Thông
phamthong.nnhcvn@gmail.com
Theo https://nongnghiephuuco.vn/
Đồng hành cùng nhà nông xây dựng nền nông nghiệp xanh từ đất khỏe đến nông sản sạch
Không chỉ cung cấp phân bón vi sinh hữu cơ, Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính đang từng bước xây dựng hướng tiếp cận mới: kết hợp sản phẩm, khoa học kỹ thuật và đồng hành cùng người nông dân, góp phần hình thành những vùng sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững và có giá trị cao.
Muốn cây trồng phát triển bền vững, trước hết phải quan tâm đến đất
Trong sản xuất nông nghiệp hiện đại, năng suất không còn là tiêu chí duy nhất quyết định thành công của một mùa vụ. Người sản xuất ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nông sản, độ an toàn, chi phí đầu vào, sức khỏe đất và khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt, khi nông nghiệp đang chuyển dần sang các mô hình sản xuất an toàn, sinh thái và bền vững, việc sử dụng phân bón hợp lý trở thành một trong những yếu tố quan trọng của quy trình canh tác.
Một nền đất được chăm sóc tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển, hỗ trợ cây hấp thu nước và dinh dưỡng, đồng thời góp phần duy trì khả năng sản xuất lâu dài của đất.
Ngược lại, nếu quá chú trọng vào việc cung cấp dinh dưỡng nhanh cho cây mà thiếu quan tâm đến chất hữu cơ, hệ sinh thái đất và cân bằng dinh dưỡng, đất có thể bị suy giảm chất lượng theo thời gian.
Từ thực tế đó, xu hướng sử dụng các sản phẩm phân bón hữu cơ, phân bón vi sinh và các giải pháp dinh dưỡng thân thiện hơn với môi trường ngày càng được người sản xuất quan tâm.
Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính xác định đây không chỉ là cơ hội phát triển sản phẩm, mà còn là một hướng đi lâu dài nhằm đồng hành cùng nhà nông trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất.
Từ sản phẩm phân bón đến giải pháp chăm sóc đất và cây trồng
Một trong những định hướng quan trọng của Chung Thịnh Chính là phát triển phân bón vi sinh hữu cơ theo hướng gắn sản phẩm với nhu cầu thực tế của từng vùng sản xuất. Bởi mỗi loại cây trồng có đặc điểm sinh trưởng khác nhau, mỗi vùng đất lại có điều kiện dinh dưỡng và canh tác riêng. Vì vậy, việc sử dụng phân bón cần dựa trên đặc điểm cây trồng, đất đai, mùa vụ và quy trình sản xuất cụ thể.
Phân bón vi sinh hữu cơ, khi được sử dụng đúng sản phẩm, đúng hướng dẫn và phù hợp với điều kiện canh tác, có thể trở thành một thành phần trong chương trình quản lý dinh dưỡng và cải thiện đất theo hướng bền vững.
Định hướng của Chung Thịnh Chính vì thế không dừng lại ở việc đưa sản phẩm ra thị trường.
HTX hướng tới xây dựng một mô hình trong đó sản phẩm đi cùng kiến thức kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng và quá trình theo dõi ngoài đồng ruộng. Đây cũng là điểm quan trọng để tạo dựng niềm tin với người nông dân. Bởi với nhà nông, một sản phẩm tốt không chỉ được đánh giá bằng bao bì hay thông tin quảng bá, mà cần được chứng minh bằng tính phù hợp trong quá trình sử dụng và hiệu quả kinh tế của cả quy trình sản xuất.
Kết hợp cùng chuyên gia, đưa khoa học đến gần hơn với đồng ruộng
Để nâng cao chất lượng chuyên môn, Chung Thịnh Chính định hướng phối hợp với các chuyên gia của Viện Ứng dụng Công nghệ và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật, kiểm chứng thực tế và chuyển giao các giải pháp phù hợp đến người sản xuất.
Sự kết hợp giữa một đơn vị trực tiếp sản xuất – kinh doanh nông nghiệp với đội ngũ chuyên gia có chuyên môn được kỳ vọng tạo ra cầu nối hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất. Thay vì để các giải pháp kỹ thuật chỉ nằm trong tài liệu nghiên cứu, mục tiêu là đưa kiến thức đó đến gần hơn với những người trực tiếp làm ra nông sản.
Quá trình này có thể bắt đầu từ việc tìm hiểu điều kiện đất đai, cây trồng và phương thức canh tác; lựa chọn giải pháp phù hợp; xây dựng mô hình; theo dõi sự phát triển của cây; ghi nhận kết quả và tiếp tục điều chỉnh quy trình khi cần thiết.
Thông qua thực tiễn sản xuất, những kinh nghiệm của nhà nông cũng có thể được phản hồi ngược trở lại cho quá trình hoàn thiện giải pháp.
Khoa học không thay thế kinh nghiệm của người nông dân, mà giúp kinh nghiệm ấy được chuẩn hóa, kiểm chứng và phát huy hiệu quả tốt hơn.

Ông Nguyễn Quang Chung, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX CTC đang thảo luận cùng TS Nguyễn Xuân Hòa, Chuyên gia phân bón của VITAD-AGRI
Hướng tới những vùng đặc sản của Thái Nguyên
Thái Nguyên có nhiều sản phẩm nông nghiệp mang tính đặc trưng, trong đó nổi bật là chè cùng nhiều vùng sản xuất na, bưởi, trám và lúa nếp bao thai. Đây là những ngành hàng có tiềm năng phát triển thành các vùng nguyên liệu chất lượng cao nếu được tổ chức sản xuất bài bản, kiểm soát tốt đầu vào và xây dựng được chuỗi liên kết ổn định.
Với cây chè, yêu cầu về chất lượng nguyên liệu, an toàn thực phẩm và quy trình chăm sóc ngày càng được chú trọng. Việc quản lý đất, dinh dưỡng và sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng vùng nguyên liệu.
Ở các vùng trồng na, bưởi và trám, cây lâu năm cần một chế độ chăm sóc có tính liên tục, trong đó sức khỏe đất và bộ rễ là những yếu tố cần được quan tâm trong suốt chu kỳ sản xuất.
Trong khi đó, lúa nếp bao thai không chỉ là cây lương thực mà còn gắn với giá trị đặc sản địa phương. Việc xây dựng quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát vật tư đầu vào và nâng cao chất lượng hạt gạo sẽ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm.
Đây chính là những lĩnh vực mà Chung Thịnh Chính mong muốn từng bước tiếp cận, không chỉ với vai trò nhà cung cấp phân bón mà còn là đối tác đồng hành của các hộ nông dân, tổ hợp tác và hợp tác xã trong xây dựng vùng sản xuất.
Mỗi vùng trồng cần một quy trình phù hợp
Một trong những nguyên tắc được Chung Thịnh Chính hướng tới là không áp dụng máy móc một công thức cho tất cả cây trồng.
Cây chè có nhu cầu khác cây ăn quả. Na có đặc điểm khác bưởi. Cây lâu năm lại có yêu cầu khác với cây lúa.
Ngay cả cùng một loại cây, nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi theo tuổi cây, mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng, điều kiện đất và mục tiêu sản xuất. Vì vậy, việc sử dụng phân bón vi sinh hữu cơ cần được đặt trong một quy trình tổng thể, kết hợp quản lý đất, nước, dinh dưỡng, sinh vật gây hại và các biện pháp canh tác phù hợp.
Định hướng này cũng mở ra khả năng xây dựng các mô hình trình diễn tại địa phương. Từ một số hộ sản xuất ban đầu, HTX có thể phối hợp với các tổ chức sản xuất lựa chọn diện tích phù hợp để triển khai mô hình, theo dõi quá trình canh tác và đánh giá các chỉ tiêu cần thiết. Khi có kết quả thực tế, mô hình có thể trở thành địa điểm tham quan, trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng.
Một mô hình tốt có thể thuyết phục người nông dân hiệu quả hơn hàng nghìn lời quảng cáo.
Từ sản xuất an toàn đến câu chuyện VietGAP, OCOP và Organic
Thị trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nông sản. Người tiêu dùng muốn biết sản phẩm được trồng ở đâu, sản xuất như thế nào và có đảm bảo an toàn hay không.
Đó cũng là lý do nhiều vùng sản xuất quan tâm đến VietGAP, phát triển sản phẩm OCOP và xa hơn là hướng tới sản xuất hữu cơ.
Trong hành trình này, phân bón vi sinh hữu cơ có thể đóng vai trò là một trong những đầu vào của quy trình sản xuất phù hợp.
Tuy nhiên, không thể đồng nhất việc sử dụng phân bón hữu cơ hoặc vi sinh với việc sản phẩm mặc nhiên đạt chứng nhận VietGAP, OCOP hay Organic.
Mỗi tiêu chuẩn và chương trình đều có hệ thống yêu cầu riêng. Để đạt được chứng nhận hoặc đáp ứng các tiêu chí tương ứng, người sản xuất cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung từ giống, đất, nước, vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc, kiểm soát dịch hại, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến hồ sơ và truy xuất nguồn gốc.
Chung Thịnh Chính xác định vai trò của mình là đồng hành về sản phẩm, kỹ thuật và giải pháp đầu vào, góp phần hỗ trợ nhà nông xây dựng nền tảng sản xuất phù hợp với những yêu cầu đó.
Đây là một cách tiếp cận thực tế, bởi mục tiêu cuối cùng không phải là một khẩu hiệu “hữu cơ” trên bao bì, mà là một quy trình sản xuất có trách nhiệm và có khả năng kiểm chứng.
Xây dựng thương hiệu từ niềm tin của người nông dân
Trong lĩnh vực nông nghiệp, thương hiệu không thể hình thành chỉ bằng truyền thông.
Một thương hiệu phân bón muốn tồn tại lâu dài cần có sản phẩm phù hợp, chất lượng ổn định, hướng dẫn kỹ thuật rõ ràng và dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng.
Chung Thịnh Chính có thể xây dựng chiến lược thị trường theo hướng phát triển mạng lưới đại lý song song với tiếp cận trực tiếp các vùng sản xuất. Tại mỗi địa phương, HTX phối hợp với các hộ nông dân và tổ chức sản xuất xây dựng mô hình; tổ chức hội thảo đầu bờ; hướng dẫn sử dụng; ghi nhận phản hồi và từng bước hình thành những vùng khách hàng trung thành dựa trên kết quả thực tế. Cùng với đó, website, Facebook, TikTok và YouTube của HTX sẽ trở thành những kênh truyền tải kiến thức về đất, cây trồng, phân bón và câu chuyện vùng sản xuất.
Những hình ảnh từ đồng ruộng, nhật ký mô hình, chia sẻ của nông dân và kết quả thực tế sẽ tạo nên một hệ thống truyền thông gần gũi, minh bạch và có sức thuyết phục.
Khát vọng tạo dựng những vùng nông sản giá trị cao
Với Chung Thịnh Chính, câu chuyện về phân bón vi sinh hữu cơ không chỉ bắt đầu từ nhà máy và kết thúc ở một bao sản phẩm được giao đến khách hàng.
Hành trình ấy cần tiếp tục trên đồng ruộng – nơi người nông dân trực tiếp sử dụng sản phẩm và quyết định hiệu quả cuối cùng của một giải pháp.
Sự phối hợp giữa HTX Chung Thịnh Chính và các chuyên gia VITAD-AGRI trong nghiên cứu khoa học, kiểm chứng thực tế và chuyển giao kỹ thuật là một hướng đi nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, đưa những giải pháp phù hợp đến gần hơn với bà con nông dân.
Từ vùng chè Thái Nguyên đến những vườn na, bưởi, trám và cánh đồng lúa nếp bao thai, mỗi vùng đất đều có thể trở thành một câu chuyện riêng về hành trình chuyển đổi nông nghiệp. Ở đó, đất được quan tâm hơn, cây được chăm sóc khoa học hơn, người nông dân được hỗ trợ tốt hơn và nông sản có thêm cơ hội gia tăng giá trị.
VietGAP có thể là một bước đi trong hành trình sản xuất an toàn. OCOP có thể mở ra cơ hội nâng tầm sản phẩm địa phương. Còn sản xuất hữu cơ là một hướng phát triển dài hạn, đòi hỏi quy trình chặt chẽ và sự kiên trì của cả vùng sản xuất.
Chung Thịnh Chính mong muốn góp một phần vào hành trình ấy bằng sản phẩm phân bón vi sinh hữu cơ, kiến thức kỹ thuật và sự đồng hành lâu dài với nhà nông.
Bởi suy cho cùng, giá trị của một sản phẩm phân bón không chỉ nằm ở lượng sản phẩm bán ra thị trường, mà còn ở những giá trị được tạo nên sau đó: một mảnh đất được chăm sóc tốt hơn, một vùng nguyên liệu được tổ chức tốt hơn, một sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn và một cuộc sống tốt hơn cho người nông dân.
Từ nhà máy đến đồng ruộng – từ đất khỏe đến nông sản sạch – Chung Thịnh Chính hướng tới trở thành người bạn đồng hành cùng nhà nông trên hành trình xây dựng nền nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững.
Thực hiện: Thành Vinh; Phó ban công nghệ và truyền thông
Vai trò của đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ đối với nguồn nhân lực doanh nghiệp và hợp tác xã trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là chiến lược sống còn để nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại Việt Nam. Các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước như Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ hay Quyết định số 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất trong thực tiễn triển khai không nằm ở cơ chế chính sách hay nguồn vốn, mà xuất phát từ chất lượng nguồn nhân lực.
- Chuyển dịch tư duy sản xuất và yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực nông nghiệp hữu cơ
Hầu hết cán bộ quản lý, kỹ thuật viên tại các doanh nghiệp nông nghiệp và hợp tác xã (HTX) hiện nay vẫn mang tư duy canh tác truyền thống (lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vô cơ). Việc chuyển đổi sang mô hình NNHC đòi hỏi một cuộc cách mạng về nhận thức, kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành chuẩn hóa. Trong bức tranh đó, công tác đào tạo, tập huấn đóng vai trò là “chìa khóa” cốt lõi. Bài viết này phân tích tầm quan trọng của việc đào tạo NNHC cho đội ngũ nhân sự nòng cốt tại các doanh nghiệp và HTX, đồng thời ghi nhận vai trò tiên phong của Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong công tác đào tạo chuyên môn, cùng sự tham gia thực tiễn đầy quyết tâm của các đơn vị học viên tiêu biểu như Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính.
- Bản chất và tầm quan trọng của đào tạo nông nghiệp hữu cơ đối với doanh nghiệp và hợp tác xã
Nông nghiệp hữu cơ không đơn thuần là “không dùng hóa chất”, mà là một hệ thống quản lý toàn diện nhằm khôi phục và duy trì sự cân bằng sinh thái của hệ sinh thái đất – nước – cây trồng – vật nuôi. Đối với các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp và HTX, việc đào tạo bài bản mang lại những giá trị chiến lược sau:
– Chuẩn hóa tư duy hệ thống và quản trị chuỗi giá trị
Cán bộ, nhân viên là những người trực tiếp hoạch định kế hoạch sản xuất, xây dựng quy trình kỹ thuật và kiểm soát chất lượng đầu ra. Đào tạo giúp họ thấu hiểu các tiêu chuẩn hữu cơ khắt khe trong nước và quốc tế (như TCVN, USDA, EU organic), từ đó thiết lập tư duy quản trị theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu cải tạo đất, chọn giống, chăm sóc đến thu hoạch và chế biến sâu.
– Giải quyết bài toán tuân thủ pháp lý và tiêu chuẩn ESG
Các thị trường xuất khẩu lớn cũng như phân khúc tiêu dùng cao cấp trong nước đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch hóa quy trình sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường – xã hội – quản trị (ESG). Đào tạo giúp đội ngũ nhân sự nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật, biết cách lập hồ sơ minh bạch nguồn gốc (traceability) và kiểm soát dư lượng kim loại nặng, hóa chất độc hại.
- Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kinh tế tuần hoàn
Nhân sự qua đào tạo bài bản sẽ có khả năng làm chủ các công nghệ mới như sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, công nghệ nhiệt phân sinh khối (Biochar), hay tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, phụ phẩm sắn) để tái tạo dinh dưỡng cho đất. Điều này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính và gia tăng nguồn thu từ tín chỉ carbon.
- Vai trò tiên phong của Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong công tác đào tạo
Để công tác đào tạo NNHC đạt hiệu quả thực chất, việc sở hữu một đội ngũ chuyên gia giảng dạy am hiểu cả lý luận khoa học lẫn thực tiễn sản xuất là điều kiện tiên quyết. Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) đã khẳng định vai trò là đơn vị sự nghiệp khoa học và đào tạo hàng đầu, đóng vai trò “bà đỡ” tri thức cho cộng đồng doanh nghiệp và HTX nông nghiệp.
– Cung cấp đội ngũ giảng viên chất lượng cao: VITAD-AGRI quy tụ mạng lưới các nhà khoa học, giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thổ nhưỡng, bảo vệ thực vật, vi sinh học nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Các giảng viên của Viện không chỉ truyền đạt hàn lâm mà còn mang đến những kinh nghiệm thực chiến đắt giá từ các dự án khảo nghiệm, chuỗi giá trị liên kết rộng khắp cả nước.
– Xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa và thực tiễn: Các khóa tập huấn do VITAD-AGRI thiết kế luôn bám sát nhu cầu thực tế của thị trường và đặc thù sinh thái từng vùng miền. Chương trình kết hợp hài hòa giữa kiến thức nền tảng về sinh thái đất, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), kiểm soát chất lượng vi sinh vật với các kỹ năng quản trị kinh doanh nông nghiệp hiện đại.
– Cầu nối chuyển giao công nghệ: Thông qua các chương trình tập huấn, VITAD-AGRI trực tiếp chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới nhất đến các đơn vị sản xuất, giúp rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra đến đồng ruộng và nhà máy chế biến.
- Thực tiễn học tập và ứng dụng từ các đơn vị tiên phong: Mekong Green Tech và HTX Chung Thịnh Chính
Hiệu quả của công tác đào tạo chỉ được đo lường chính xác qua sự chuyển hóa trong hành động thực tiễn của các học viên. Điển hình cho tinh thần cầu thị và khát vọng chuyển đổi xanh là sự tham gia tích cực của Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính vào các chương trình tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu.
Công ty Cổ phần Mekong Green Tech: Tư duy công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn
– Là doanh nghiệp hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực giải pháp nhiệt phân sinh khối, sản xuất than sinh học (Biochar) và xử lý phụ phẩm nông nghiệp, đội ngũ nhân sự kỹ thuật của Mekong Green Tech luôn chủ động tham gia các khóa cập nhật kiến thức chuyên môn do VITAD-AGRI và các cơ quan chuyên ngành tổ chức.
– Ứng dụng thực tiễn: Nhờ được đào tạo bài bản về cấu trúc đất, cơ chế trao đổi ion và tính chất hóa lý của Biochar, đội ngũ Mekong Green Tech đã nghiên cứu và thương mại hóa thành công các giải pháp tận dụng phụ phẩm (như vỏ sầu riêng, vỏ cà phê, vỏ và thân sắn tại Sơn La) để sản xuất vật liệu cải tạo đất chuyên canh và xử lý kim loại nặng. Sự kết hợp giữa nền tảng kiến thức khoa học nông nghiệp và công nghệ tự động hóa đã giúp doanh nghiệp phát triển các dự án quy mô lớn, gắn kết hiệu quả với các trang trại lớn như Đà Lạt Milk trong việc giám sát và cải thiện môi trường chuồng nuôi.
Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính: Đổi mới tư duy sản xuất tại địa phương
Đóng chân tại xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, HTX Chung Thịnh Chính là mô hình tiêu biểu cho thấy tầm quan trọng của việc đưa tri thức khoa học về cơ sở.
– Ứng dụng thực tiễn: Cán bộ và xã viên của HTX đã tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác dưới tán rừng, quy trình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và tiêu chuẩn hóa chất lượng nông sản. Kiến thức thu được từ các chuyên gia đã giúp HTX quy hoạch vùng trồng dược liệu và cây ăn quả theo hướng hữu cơ, tối ưu hóa quy trình chăm sóc, đồng thời xây dựng thương hiệu, website https://chungthinhchinh.vn và nhận diện bao bì chuyên nghiệp. Qua đó, HTX không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra sinh kế bền vững cho hàng chục nông hộ thành viên.

Mekong Green Tech và HTX Chung Thịnh Chính tham gia tập huấn về Nông nghiệp hữu cơ do VITAD-AGRI giảng dạy
- Thách thức và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nông nghiệp hữu cơ trong giai đoạn tới
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, công tác đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ cho doanh nghiệp và HTX hiện nay vẫn đối mặt với một số rào cản:
- Tính biến động của nguồn lực lao động: Nhân sự tại các HTX và nông hộ thường có trình độ không đồng đều, dễ dao động theo thời vụ, gây khó khăn cho việc duy trì kiến thức chuyên sâu dài hạn.
- Sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành tại chỗ: Đôi khi các chương trình tập huấn còn mang tính lý thuyết diện rộng, thiếu các mô hình thực hành cầm tay chỉ việc ngay trên đồng ruộng của đơn vị.
Để khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo trong thời gian tới, cần tập trung đồng bộ các giải pháp:
– Đổi mới phương thức đào tạo theo mô hình “Đào tạo kèm cặp thực tế” (Mentorship): Các chuyên gia từ các viện nghiên cứu như VITAD-AGRI cần có thời gian đồng hành trực tiếp tại hiện trường doanh nghiệp/HTX để hướng dẫn xử lý các vấn đề phát sinh cụ thể trong đất, nước và dịch bệnh.
– Tăng cường số hóa học liệu: Xây dựng các nền tảng học tập trực tuyến, video hướng dẫn trực quan để cán bộ công nhân viên có thể tự ôn tập, tra cứu quy trình kỹ thuật mọi lúc, mọi nơi.
– Đẩy mạnh liên kết “Ba nhà” (Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp/HTX): Đảm bảo các chương trình tập huấn được đặt hàng trực tiếp từ nhu cầu thực tế của thị trường và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, gắn kết chặt chẽ quyền lợi kinh tế với việc tuân thủ quy chuẩn hữu cơ.
- Kết luận
Đào tạo, tập huấn nông nghiệp hữu cơ không chỉ là hoạt động bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn mà là khoản đầu tư chiến lược mang tính nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam. Sự đóng góp thầm lặng nhưng bền bỉ của các đơn vị nghiên cứu, đào tạo như Viện Ứng dụng và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI) trong việc cung cấp đội ngũ giảng viên chất lượng cao chính là “bệ phóng” tri thức vững chắc. Song hành cùng đó, sự dấn thân, cầu thị và áp dụng quyết liệt vào thực tiễn sản xuất của các đơn vị tiên phong như Công ty Cổ phần Mekong Green Tech và Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Chung Thịnh Chính là minh chứng sống động cho thấy hiệu quả thiết thực của mô hình đào tạo gắn liền với thực tiễn. Đầu tư đúng mức cho con người hôm nay chính là chìa khóa để nông nghiệp Việt Nam vươn xa, tự tin hội nhập và phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên kinh tế xanh toàn cầu.
Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban công nghệ và truyền thông VITAD-AGRI, CTV của https://mkgreen.vn và https://chungthinhchinh.vn
Ứng dụng quản trị ESG trong thực hiện nghị quyết 70/NQ-TW về an ninh năng lượng quốc gia và chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030 (quyết định 926/QĐ-TTg)
Đây là sự đột phá công nghệ Năng lượng sinh học (Bioenergy) và Than sinh học (Biochar) từ giải pháp thương mại toàn diện mà nhiều công ty đã thực hiện trong đó điển hình là Công ty Cổ phần Mekong Green Tech
- BỐI CẢNH NĂNG LƯỢNG VÀ THÁCH THỨC CHUYỂN ĐỔI XANH GIAI ĐOẠN 2026 – 2030
Bước vào giai đoạn 2026 – 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước “tác động kép” từ hai định hướng chiến lược quốc gia lớn:
- Một mặt, Nghị quyết số 70/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cấp bách về việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy dịch chuyển năng lượng theo hướng xanh hóa, tăng cường tỷ trọng năng lượng tái tạo, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.
- Mặt khác, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 926/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030, tạo cơ chế chính sách thúc đẩy các khối tư nhân tích cực áp dụng tiêu chuẩn Quản trị Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) và mô hình kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đang đặt các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản và công nghiệp phụ trợ trước những rào cản tài chính và kỹ thuật không nhỏ:
- Chi phí năng lượng tăng cao: Giá điện sản xuất và nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu DO/FO) biến động phức tạp, đe dọa trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Áp lực từ hàng rào kỹ thuật quốc tế: Các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản liên tục thắt chặt quy định về chứng nhận footprint carbon, chứng chỉ ESG và áp thuế carbon (như cơ chế CBAM).
- Thách thức xử lý phế phụ phẩm: Hàng triệu tấn phế phụ phẩm nông – lâm nghiệp (trấu, vỏ cà phê, vỏ sắn, mụn dừa, gỗ vụn) bị bỏ phí hoặc đốt xả thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Trước thực trạng đó, nhiều công ty, trong đó có Công ty Cổ phần Mekong Green Tech (MKGREEN) đã khẳng định vị thế đơn vị tiên phong khi thương mại hóa thành công giải pháp Tích hợp Năng lượng Sinh học (Bioenergy) và Than sinh học (Biochar) – mô hình “một mũi tên trúng hai đích”, giải quyết triệt để bài toán an ninh năng lượng nội bộ và nâng cao năng lực chuẩn hóa ESG cho doanh nghiệp.
- BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG NỘI BỘ VÀ TÍNH TƯƠNG THÍCH VỚI NGHỊ QUYẾT 70/NQ-TW

Nghị quyết 70/NQ-TW nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng mới là giải pháp then chốt để bảo đảm an ninh năng lượng, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu”. Mô hình Nhiệt phân (Pyrolysis) của Mekong Green Tech hiện thực hóa tinh thần này bằng cách biến rác thải/phế phụ phẩm nông nghiệp thành hai dòng năng lượng thương mại giá trị cao:
2.1. Khí sinh học (Syngas) và Nhiệt năng tự dùng
Trong quá trình nhiệt phân phụ phẩm ở nhiệt độ 500 – 700oC trong điều kiện thiếu oxy, hệ thống thiết bị sản xuất biochar thu hồi lượng lớn dòng khí tổng hợp (Syngas) giàu CO, H2 và CH4. Khí này được cấp ngược lại làm nhiên liệu đốt cho các lò sấy, lò hơi (boiler) hoặc phát điện nội bộ. Giải pháp này giúp các nhà máy chế biến nông sản tự chủ từ 60 – 100% nhu cầu nhiệt năng sấy, giảm phụ thuộc hoàn toàn vào lưới điện quốc gia và than đá, đúng theo định hướng tự chủ năng lượng của Nghị quyết 70/NQ-TW.
2.2. Than sinh học (Biochar) – Nhiên liệu xanh và Vật liệu lưu trữ Carbon
Sản phẩm đầu ra thứ hai của quá trình là Than sinh học (Biochar). Ngoài việc được ứng dụng làm chất cải tạo đất cao cấp, Biochar còn đóng vai trò là nguồn nhiên liệu sinh học rắn có chỉ số nhiệt lượng cao (trên 5.500 – 6.500 kcal/kg), hoàn toàn có khả năng thay thế than đá trong các lò đốt công nghiệp mà không phát thải khí lưu huỳnh (SOx).
- GIẢI PHÁP THƯƠNG MẠI HÓA ESG ĐỒNG HÀNH CÙNG QUYẾT ĐỊNH 926/QĐ-TTg

Quyết định 926/QĐ-TTg cung cấp các gói hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn tài chính xanh và đào tạo cho các doanh nghiệp cam kết thực hiện mô hình kinh doanh bền vững. Nhà sản xuất biochar cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp một gói giải pháp ESG toàn diện, giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng các tiêu chí thụ hưởng của Chương trình 926/QĐ-TTg:
| Trụ cột ESG | Tác động Kỹ thuật & Môi trường | Giá trị Thương mại cho Doanh nghiệp |
|
E – Environmental (Môi trường) |
• Chuyển hóa 100% phế phụ phẩm thành năng lượng. • Giảm 80 – 95% phát thải khí nhà kính so với nhiên liệu truyền thống. • Cô lập 2,2 – 2,8 tấn CO_2e trên mỗi tấn Biochar bón đất. |
• Giảm ngay chi phí mua nhiên liệu sản xuất. • Đáp ứng các tiêu chuẩn chứng nhận xanh (ISO 14064, ISO 50001). • Tránh nguy cơ bị đánh thuế carbon CBAM khi xuất khẩu. |
|
S – Social (Xã hội) |
• Triệt tiêu tình trạng đốt rơm rạ/phụ phẩm xả thải ra môi trường. • Cải thiện chất lượng không khí tại địa phương. • Tạo sinh kế và thu nhập tăng thêm cho chuỗi cung ứng nông hộ. |
• Tăng chỉ số uy tín thương hiệu và trách nhiệm xã hội. • Xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, tạo sự gắn kết chặt chẽ với người nông dân và hợp tác xã vùng nguyên liệu. |
|
G – Governance (Quản trị) |
• Tích hợp hệ thống số hóa MRV (Đo lường, Báo cáo, Thẩm định). • Định vị GPS và quản lý mã định danh lô hàng Biochar chuẩn hóa quốc tế. |
• Dữ liệu ESG minh bạch, sẵn sàng cho kiểm toán độc lập. • Dễ dàng tiếp cận các nguồn Vốn tín dụng Xanh (Green Credits) và Quỹ đầu tư tác động theo Quyết định 926/QĐ-TTg. |
- MÔ HÌNH HỢP TÁC VÀ NĂNG LỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT BIOCHAR
Để hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí đầu tư ban đầu, Các công ty sản xuất biochar triển khai các mô hình hợp tác thương mại linh hoạt:
4.1. Mô hình BOT / BOO Năng lượng Xanh (Build – Own – Operate)
Công ty sản xuất biochar trực tiếp đầu tư, lắp đặt và vận hành hệ thống lò nhiệt phân ngay tại nhà máy của khách hàng. Khách hàng chỉ cần cung cấp nguồn phế phụ phẩm và cam kết mua lại nguồn nhiệt/năng lượng sạch với mức giá ưu đãi hơn từ 15 – 25% so với chi phí năng lượng truyền thống.
4.2. Dịch vụ Tư vấn và Thương mại hóa Tín chỉ Carbon (CORC)
Công ty sản xuất biochar không chỉ cung cấp máy móc mà còn đảm nhận toàn bộ quy trình đo lường, đăng ký chứng nhận loại bỏ carbon (Biochar Carbon Removal – CORC) trên các sàn giao dịch quốc tế như Puro.earth. Lợi nhuận từ việc bán tín chỉ carbon sẽ được chia sẻ trực tiếp với doanh nghiệp đối tác, tạo ra dòng tiền thuần tăng thêm cho doanh nghiệp.
Cam kết giá trị từ công ty sản xuất biochar :
“Chúng tôi không chỉ bán thiết bị, chúng tôi cung cấp giải pháp toàn diện giúp doanh nghiệp biến chi phí xử lý chất thải thành nguồn thu nhập từ năng lượng sạch và tín chỉ carbon, đưa ESG từ một định hướng lý thuyết trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trên thương trường.”
- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP
Giải pháp thương mại của các công ty sản xuất biochar trong việc đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt Nam hiện thực hóa Nghị quyết 70/NQ-TW về an ninh năng lượng quốc gia và tiếp cận nguồn lực hỗ trợ từ Quyết định 926/QĐ-TTg (Chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 – 2030). Thông qua hệ sinh thái công nghệ Nhiệt phân sinh khối (Pyrolysis) sản xuất Năng lượng sinh học tự dùng và Than sinh học (Biochar), các công ty sản xuất biochar cung cấp mô hình dịch vụ trọn gói giúp doanh nghiệp vừa bảo đảm tự chủ năng lượng sản xuất, vừa gia tăng xếp hạng ESG, thu đổi tín chỉ carbon và bứt phá năng lực cạnh tranh quốc tế.
Việc kết hợp giữa mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng theo Nghị quyết 70/NQ-TW và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh ESG theo Quyết định 926/QĐ-TTg không còn là lựa chọn mang tính hình thức, mà là bài toán sinh tồn của doanh nghiệp trong giai đoạn 2026 – 2030.
Công nghệ Than sinh học và Năng lượng sinh học của các công ty sản xuất biochar chính là chìa khóa vàng giúp các doanh nghiệp Việt Nam chủ động nguồn năng lượng, xanh hóa quy trình sản xuất, tối ưu hóa điểm số ESG và bứt phá vươn ra thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp chế biến nông sản, tập đoàn công nghiệp và hợp tác xã cần nhanh chóng nắm bắt các chính sách ưu đãi từ Chương trình 926/QĐ-TTg để hợp tác cùng công ty sản xuất biochar triển khai mô hình ngay trong năm nay.
Thực hiện: Thành Vinh, phó ban truyền thông VITAD-AGRI
THÔNG TIN LIÊN HỆ HỢP TÁC DỰ ÁN ESG & NĂNG LƯỢNG XANH:
Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI)
– Website: https://vitad-agri.vn
– Lĩnh vực: Tư vấn, chuyển giao, đào tạo khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nông nghiệp và đặc biệt là nông nghiệp hữu cơ và các lĩnh vực khác
Công ty Cổ phần Mekong Green Tech (MKGREEN)
– Website: https://mkgreen.vn/
– Lĩnh vực: Thiết bị Nhiệt phân Công nghiệp – Giải pháp Năng lượng Sinh học – Tín chỉ Carbon & Cải tạo đất Biochar.
Lúa Japonica Đồng Phú: Hành trình từ “Cánh đồng hữu cơ” đến biểu tượng Nông nghiệp Xanh Thủ đô
Ngày 13/06/2026, tại xã Hòa Phú (TP. Hà Nội), “Ngày hội lúa Japonica hữu cơ” đã diễn ra trong không khí hân hoan, khẳng định vị thế của mô hình nông nghiệp hữu cơ kiểu mẫu. Sự kiện không chỉ tôn vinh thành quả lao động của bà con nông dân mà còn là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn chiến lược của Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh trong hành trình “nâng tầm” giá trị nông sản Việt theo chuẩn quốc tế.

Tổng quan “Ngày hội lúa Japonica hữu cơ” tại Hội trường xã Hòa Phú
Sự kết nối giữa tinh hoa đất trời và tầm nhìn doanh nghiệp
Trong không gian đậm chất quê hương với những bản tình ca về cây lúa Việt Nam, Ngày hội lúa Japonica đã quy tụ đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học và các chuyên gia đầu ngành. Sự hiện diện của ông Nguyễn Văn Vương – Trưởng Phòng Quản lý giống cây trồng – Cục trồng trọt và bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Vũ Xuân Hùng – Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch UBND xã Hòa Phú, ông Đỗ Xuân Tình – Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Phú, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh, bà Trịnh Thị Nguyệt – Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú, PGS.TS Mai Quang Vinh – Ủy viên Ủy banTW mặt trận tổ quốc Việt Nam – Ủy viên Hội đồng Khoa học Công ty Bảo Minh, TS Lê Quý Kha – Phó Chủ tịch Hiệp hội chuyển đổi xanh Việt Nam VGA, TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, Biên tập viên Ngọc Bamboo, Mr Việt Anh – Chủ kênh Tiktok “Anh Đoại đến đây” và một số quý vị đại biểu, các nhà khoa học, chủ doanh nghiệp cùng toàn thể bà con nông dân Đồng Phú đã minh chứng cho tầm vóc quan trọng của sự kiện đối với bức tranh nông nghiệp hiện đại.

Các đại biểu tham dự Ngày Hội
Mở đầu ngày hội, thước phim phóng sự về hành trình của giống lúa Japonica tại Đồng Phú đã chạm đến cảm xúc của nhiều người. Từ con số khiêm tốn 2 ha thử nghiệm năm 2012 rồi mở rộng lên 5 ha đại trà, qua những ngày gian khó, đến nay, vùng nguyên liệu đã mở rộng lên 65 ha. Đây không chỉ là con số về diện tích, mà là cột mốc khẳng định thành công của tư duy canh tác hữu cơ bền vững của Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú và Công ty Bảo Minh đóng vai trò là “cánh tay nối dài” đưa sản phẩm vươn xa.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu trong video phóng sự về lúa Japonica tại Đồng Phú
Bảo Minh và sứ mệnh “Nâng tầm” nông sản hữu cơ
Tại trung tâm của sự kiện, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh – đã có những chia sẻ đầy tâm huyết về hành trình đồng hành cùng người nông dân. Đối với Bảo Minh, mỗi hạt gạo Japonica không chỉ là nông phẩm, mà là kết tinh của sự tử tế, minh bạch và khát vọng khẳng định thương hiệu Việt trên bản đồ tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới.
Sau đó, tại cánh đồng lúa Đồng Phú, bà Hạnh Hiếu nhớ lại những ngày đầu tiếp cận nông dân Đồng Phú, khi khái niệm “nông nghiệp hữu cơ” còn xa lạ. Bằng sự kiên trì, Bảo Minh đã thuyết phục bà con ký kết hợp đồng bao tiêu, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật để đạt chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn USDA (Hoa Kỳ) – một trong những tiêu chuẩn chất lượng cao cấp bậc nhất thế giới.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu trả lời phỏng vấn tại cánh đồng lúa Đồng Phú
Điều khác biệt mà Bảo Minh mang lại không chỉ là bao tiêu đầu ra, mà là sự thay đổi tư duy sản xuất: thực hiện nông nghiệp sạch xuyên suốt từ đồng ruộng đến bàn ăn. “Chúng tôi tin rằng, với sự phối hợp chặt chẽ, Bảo Minh sẽ đưa lúa Japonica vươn lên tầm cao mới, nâng cao thu nhập cho bà con và vị thế của xã Hòa Phú”, bà Hạnh Hiếu khẳng định. Thực tế đã chứng minh, nhờ sự đồng hành này, mỗi hộ nông dân tại Đồng Phú hiện có thu nhập ổn định từ 600 – 800 triệu đồng/mùa, con số mơ ước của nhiều vùng nông nghiệp trên cả nước.
Đồng Phú: Hình mẫu nông nghiệp hữu cơ kiểu mẫu của Hà Nội
Phát biểu tại ngày hội, bà Trịnh Thị Nguyệt đã nói lời cảm ơn GS Phạm Tiến Dũng – nguyên chuyên gia đầu ngành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) đã đưa những giống lúa hữu cơ về trồng thử nghiệp ở đây, ban đầu là lúa Bắc thơm số 7, sau đó là Japonica J02 năm 2012, mở đường cho sự thành lập Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú vào 5 năm sau đó (2017) và có được thành quả 65 ha lúa hữu cơ chất lượng cao nơi Đồng Phú này, cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo trung ương, địa phương, các nhà khoa học, cảm ơn sự cố gắng tận tâm của bà con nông dân nơi đây đã làm nên thương hiệu lúa gạo Japonica nổi tiếng có chất lượng OPCOP 4 sao.

Bà Trịnh Thị Nguyệt Phát biểu tại ngày hội
Cũng tại đây, ông Đỗ Xuân Tình – Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Phú – đánh giá cao vai trò kết nối của Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú dưới sự dẫn dắt của bà Trịnh Thị Nguyệt. Việc kế thừa những nghiên cứu từ các nhà khoa học đi trước, đến nay gạo Japonica hữu cơ có giá thành cao hơn so với gạo thông thường, nhưng sản phẩm vẫn luôn trong tình trạng “cháy hàng”. Điều này phản ánh xu hướng tiêu dùng thông minh của thị trường hiện đại, nơi người tiêu dùng sẵn sàng chi trả xứng đáng cho những sản phẩm thực sự sạch, minh bạch nguồn gốc.

Ông Đỗ Xuân Tình đánh giá cao lúa hữu cơ Japoanic
Ông Nguyễn Văn Vương – đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật – nhận định: “Bà con nông dân Hòa Phú đã làm nên một sản phẩm tuyệt vời, trở thành hình mẫu nông nghiệp hữu cơ của Thủ đô Hà Nội”. Ông bày tỏ kỳ vọng mô hình này sẽ lan tỏa mạnh mẽ ra khắp vùng đồng bằng sông Hồng, không chỉ tăng diện tích mà còn nâng cao chất lượng hạt gạo.

Ông Nguyễn Văn Vương kỳ vọng mô hình lúa hữu cơ sẽ lan tỏa mạnh mẽ
Hướng tới tương lai: Chuyển đổi xanh bền vững
Trong bài phát biểu sau cùng, TS Lê Quý Kha (Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam VGA) đã biểu dương tinh thần “chuyển đổi xanh” tại Hòa Phú và đề cao địa thế cách ly lý tưởng cho nông nghiệp hữu cơ nơi đây. Ông đặt ra mục tiêu đầy tham vọng cho giai đoạn tới: mở rộng diện tích từ 65 ha lên 100 – 200 ha, đồng thời nâng năng suất từ 250-300 kg/sào lên 350 kg/sào thông qua việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến.

TS Lê Quý Kha biểu dương tinh thần “chuyển đổi xanh” tại Hòa Phú
Ngày hội khép lại với những trải nghiệm thực tế ngay tại cánh đồng Đồng Phú. Các đại biểu đã trực tiếp giao lưu với bà con nông dân đang gặt lúa, cùng thưởng thức những món ăn được chế biến từ gạo hữu cơ như cơm gạo, bánh dày… trong không gian âm nhạc đồng quê ấm cúng. Sau đó là buổi livestream trực tiếp, mang “hơi thở” của ngày hội lúa đến với hàng ngàn người tiêu dùng trên khắp cả nước.
Lời kết
“Ngày hội lúa Japonica” không chỉ là dịp để nhìn lại thành quả sau nhiều năm miệt mài, mà còn là lời khẳng định về sức sống bền bỉ của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Với nền tảng là sự tận tâm của người nông dân, sự hỗ trợ khoa học của các chuyên gia và tầm nhìn tiên phong từ các doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh, HTX nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú, gạo Japonica nơi đây đang viết tiếp câu chuyện về thương hiệu nông sản Việt chất lượng cao.
Đó là hành trình từ bùn đất vươn lên thành tiêu chuẩn quốc tế, là sự kết tinh của tình yêu quê hương và sự sáng tạo không ngừng nghỉ. Bảo Minh cam kết sẽ tiếp tục là “người đồng hành tin cậy”, đảm bảo sự ổn định trong chuỗi giá trị, mang hạt gạo sạch đến tận tay người tiêu dùng, để thương hiệu nông sản Việt ngày càng khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.
Công ty Cổ phần Kinh doanh Chế biến Nông sản Bảo Minh – Tâm huyết cho chất lượng; HTX nông nghiệp hữu cơ Đồng Phú – Bền vững cho tương lai.
Một số hình ảnh ấn tượng trong Ngày Hội:






Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban truyền thông
Lúa Rươi Chí Minh: Bản Giao Hưởng Của Đất Trời và Khát Vọng Vươn Ra Thế Giới
Ngày 6 tháng 6 năm 2026, tại xã Chí Minh, một ngày nắng vàng rực rỡ, không khí tại vùng đất ven sông như náo nhiệt hơn bao giờ hết. Sự kiện “Ngày hội Lúa Rươi hữu cơ và xúc tiến thương mại các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP” không đơn thuần chỉ là một sự kiện xúc tiến thương mại, mà đó là ngày hội của lòng biết ơn, sự kế thừa và niềm tự hào của một cộng đồng nông dân đang tiên phong trong xu hướng nông nghiệp xanh bền vững.
“Lộc trời” từ tư duy “thuận thiên”
Câu chuyện về lúa rươi Chí Minh không bắt đầu từ những máy móc hiện đại, mà bắt đầu từ việc lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên. Rươi – loài sinh vật vốn được mệnh danh là “rồng đất”, cực kỳ nhạy cảm với hóa chất và ô nhiễm môi trường. Trước đây, rươi chỉ được coi là “lộc trời” ban tặng theo con nước. Nhưng người dân Chí Minh đã không dừng lại ở đó. Họ đã biến những cánh đồng lúa truyền thống thành một hệ sinh thái tuần hoàn, nơi con rươi cùng cây lúa cùng cộng sinh, cùng lớn lên.
Sự chuyển đổi này mang đậm dấu ấn lịch sử. Video đầu chương trình đã gợi lại những ngày đầu gian khó. Bà con Chí Minh hồi nhớ lại tâm huyết của ông Trần Văn Quân – Phó Chủ tịch UBND Thành phố, người khi còn làm Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương (cũ) đã có sáng kiến đột phá: xây dựng Cống Sồi. Chính việc điều tiết nguồn nước sông từ ngoài đê vào đồng ruộng đã tạo ra sự thay đổi kỳ diệu, biến vùng đất khó canh tác thành vùng sản xuất hữu cơ đến nay quy mô lên tới 1700 ha trù phú, trong đó riêng xã Chí Minh có 478 ha sản xuất lúa kết hợp khai thác rươi, cáy, hàng năm cung cấp khoảng 2.400 tấn lúa hữu cơ và từ 500 – 600 tấn rươi, cáy thương phẩm. Doanh thu bình quân đạt từ 500 – 600 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận đạt từ 350 – 450 triệu đồng/ha/năm, cao hơn nhiều lần so với sản xuất lúa truyền thống. Hệ sinh thái này tạo nên một chỉnh thể nông nghiệp “thuận thiên” bền vững.

Toàn cảnh Hội trường “Ngày Hội Lúa Rươi”
Ngày hội của sự kết nối và những tâm hồn đồng điệu
Sự kiện ngày 6/6/2026 là điểm hội tụ của những nhà quản lý, nhà khoa học và người nông dân. Ông Nguyễn Hồng Sơn – Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, ông Nguyễn Quang Phúc – Ủy viên thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hải Phòng, ông Trần Văn Quân – Ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ Thành phố, Phó chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng, bà Lương Thị Kiểm – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hải Phòng, ông Dương Hà Hải – Bí thư đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Chí Minh, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh cùng các lãnh đạo địa phương đã có mặt để chứng kiến thành quả sau bao năm miệt mài.

Các đại biểu tham dự “Ngày Hội Lúa Rươi”
Bà Lương Thị Kiểm đã thay mặt ngành nông nghiệp bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bà con nông dân. Bà nói: “Thương hiệu lúa rươi Chí Minh đạt chuẩn OCOP 5 sao không phải là món quà từ trên trời rơi xuống, đó là kết quả của mồ hôi, công sức và đặc biệt là sự tử tế của người nông dân Chí Minh khi đã dám nói không với hóa chất, chấp nhận quy trình canh tác khắt khe để giữ lại sự tinh khiết cho hạt gạo.”

Bà Lương Thị Kiểm phát biểu khai mạc “Ngày Hội Lúa Rươi”
Khi doanh nghiệp là người bạn đồng hành
Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của ngày hội là sự xuất hiện của Công ty Cổ phần kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh. Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu – Tổng Giám đốc Công ty, trong bài phát biểu của mình, đã không gọi bà con là “đối tác”, bà gọi họ là những người bạn, những “nghệ sĩ” trên đồng ruộng. Bản thân gia đình bà cũng đã bốn đời canh tác, khai thác lúa và rươi. Bảo Minh liên kết trực tiếp với nông dân tại các vùng bãi bồi ven sông nước lợ như và các bãi rươi tại Hải Phòng với “Mô hình liên kết 7 nhà”: Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà tổ chức sản xuất – Nhà nông – Nhà băng – Nhà bán lẻ – Nhà truyền thông để quản lý quy trình từ đồng ruộng đến bàn ăn; Cam kết 3 KHÔNG trong thu mua: Doanh nghiệp ký kết trực tiếp với các hợp tác xã và hộ nông dân ngay từ đầu vụ, không mua qua trung gian, thu mua giá ổn định và kiểm soát tuyệt đối chất lượng thóc đầu vào. Với dòng sản phẩm chủ lực: Gạo ST25 ruộng rươi (loại thượng hạng hoặc dòng hữu cơ Queen Rice); Quy trình canh tác hữu cơ (Con rươi rất nhạy cảm với hóa chất. Do đó, vùng đất trồng lúa tuyệt đối không sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học hay chất kích thích). Đất được rươi “cày bừa”, tạo độ tơi xốp tự nhiên. Do hấp thụ tinh túy từ môi trường cộng sinh đặc biệt, hạt gạo chứa hàm lượng dinh dưỡng cao vượt trội (Vitamin A, B1, B6, B12, Omega 3-6-9…). Bảo Minh cũng áp dụng triết lý “Gạo tươi” bằng phương thức “Bán đến đâu, xay xát đến đó”. Bảo Minh định kỳ đồng hành tổ chức “Lễ hội Ruộng Rươi / Ngày hội lúa rươi hữu cơ” tại Hải Phòng. Đây chính là ngày hội văn hóa sinh thái nhằm tôn vinh nông nghiệp tử tế, tổ chức các hội thi gặt lúa, bắt nơm, và nấu ăn để quảng bá “hạt ngọc trời” được tổ chức hôm nay. Bảo Minh có kênh phân phối rộng lớn, hiện diện tại hơn 8.000 điểm bán trên toàn quốc và các kênh mua sắm trực tuyến.

Bà Bùi Thị Hạnh Hiếu cảm ơn bà con nông dân Chí Minh và lãnh đạo địa phương
Bảo Minh không chỉ đóng vai trò là nhà tài trợ mà còn là “cánh tay nối dài” đưa nông sản Chí Minh ra thị trường lớn. Lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa lãnh đạo xã Chí Minh và Bảo Minh chính là minh chứng cho một tương lai bền vững. “Chúng tôi đến đây bằng sự trân trọng giá trị mà bà con đã tạo ra. Bảo Minh cam kết sẽ đồng hành cùng người nông dân, giúp gạo rươi không chỉ là đặc sản địa phương mà còn là niềm tự hào trên các kệ hàng quốc tế”, bà Hạnh Hiếu khẳng định.

Lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa lãnh đạo xã Chí Minh và Bảo Minh
Hơi thở đồng quê – Từ hội thi đến bàn tiệc
Để mang lại không khí thân thiện và gần gũi, ngày hội đã tổ chức các hội thi đậm chất dân gian. Những hình ảnh người nông dân với nụ cười rạng rỡ tham gia “Hội thi nấu ăn truyền thống”, “Hội thi gặt lúa” hay “Hội thi đùa nơm” đã làm cho không gian ngày hội trở nên sống động. Những món ăn từ rươi như chả rươi, rươi kho niêu đất hay cơm gạo rươi thơm lừng – tất cả đều được chế biến từ những nguyên liệu sạch ngay tại đồng quê, đã thực sự chinh phục các đại biểu.

Hội thi nấu ăn Truyền thống
Sau bữa cơm thân mật, đoàn đại biểu đã cùng nhau đi thực địa. Đi giữa những cánh đồng lúa xanh mướt, tận mắt thấy những con rươi khỏe mạnh dưới lớp bùn, mới hiểu được vì sao sản phẩm này lại quý đến vậy.
Chinh phục thị trường khó tính nhất thế giới
Anh Nguyễn Văn Tuân – Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Thế hệ mới là một điển hình tiêu biểu cho tư duy làm nông nghiệp thời đại mới. Anh cho biết, con đường đưa gạo Chí Minh ra thế giới không hề trải đầy hoa hồng. Từ những ngày đầu mày mò, đến nay, anh đã liên kết chặt chẽ với Bảo Minh để xuất khẩu hàng nghìn tấn gạo hữu cơ sang thị trường EU – thị trường nổi tiếng với những tiêu chuẩn khắt khe nhất thế giới.
“Khi gạo Chí Minh được dán nhãn hữu cơ tại các siêu thị lớn ở Châu Âu, tôi biết mình đã thành công. Không phải thành công về lợi nhuận, mà là thành công khi khẳng định được thương hiệu của người nông dân Việt Nam”, anh Tuân tâm sự. Câu chuyện của anh cũng chính là lời khẳng định về tương lai: nông sản Việt hoàn toàn đủ sức chinh phục những vị khách khó tính nhất nếu chúng ta đi đúng con đường nông nghiệp bền vững.
Hướng tới tương lai bền vững
Ngày hội lúa rươi tại xã Chí Minh khép lại, nhưng dư âm của nó sẽ còn lan tỏa. Với sự chỉ đạo sát sao của chính quyền, sự hỗ trợ từ các chuyên gia, sự đồng hành của doanh nghiệp như Bảo Minh và lòng quyết tâm của người nông dân như anh Tuân, anh Luận (Công ty Cổ phần Nông nghiệp Thế hệ mới), anh Trung (Công ty Cổ phần Đầu tư Hải Âu Việt – đơn vị sở hữu thương hiệu Gạo Kiến Quốc và Gạo Tết Vua)… không chỉ là địa danh nông nghiệp mà đang trở thành một biểu tượng cho sự chuyển mình của nông thôn mới Việt Nam.
Gạo rươi Chí Minh không chỉ là hạt gạo, đó là bản giao hưởng của đất trời, phù sa sông và khát vọng vươn tầm thế giới. Chặng đường phía trước còn nhiều thử thách, nhưng với nền móng vững chắc ngày hôm nay, chúng ta có quyền tin vào một tương lai tươi sáng cho vùng đất “đặc sản 5 sao” này.
Một số hình ảnh ấn tượng tại “Ngày Hội Lúa Rươi”








Thực hiện: Thành Vinh, Phó ban truyền thông VITAD-AGRI
QUYẾT ĐỊNH 885/QĐ-TTg VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH TẠI VIỆT NAM
Quyết định 885/QĐ-TTg (2020) phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, đặt mục tiêu mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển chuỗi giá trị bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Quyết định, đồng thời phân tích vai trò và những yêu cầu đối với hợp tác xã (HTX) trong lĩnh vực sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học – yếu tố then chốt của hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ.
- Giới thiệu
Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch sang hướng bền vững, Quyết định 885/QĐ-TTg đóng vai trò chiến lược trong việc định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Không chỉ tập trung vào sản xuất nông sản, Quyết định còn nhấn mạnh đến hệ sinh thái đầu vào, đặc biệt là phân bón hữu cơ và chế phẩm sinh học, tạo cơ hội lớn cho các HTX tham gia chuỗi giá trị.
- Nội dung chính của Quyết định 885/QĐ-TTg
2.1. Mục tiêu tổng quát
– Phát triển nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại, bền vững, thân thiện môi trường;
– Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp;
– Tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
2.2. Các chỉ tiêu cụ thể
|
Chỉ tiêu |
Đến năm 2025 |
Đến năm 2030 |
|
Diện tích đất nông nghiệp hữu cơ |
1,5 – 2% |
2,5 – 3% |
|
Sản phẩm chăn nuôi hữu cơ |
1 – 2% |
2 – 3% |
|
Sản phẩm thủy sản hữu cơ |
0,5 – 1,5% |
1,5 – 3% |
|
Giá trị sản phẩm/ha |
Tăng 1,3-1,5 lần |
Tăng 1,5-1,8 lần |
2.3. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm
(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách
– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về nông nghiệp hữu cơ;
– Đồng bộ hóa với tiêu chuẩn quốc tế (EU, USDA…).
(2) Phát triển đầu vào cho sản xuất hữu cơ
– Khuyến khích sản xuất:
+ Phân bón hữu cơ, phân vi sinh,
+ Chế phẩm sinh học,
+ Thuốc BVTV sinh học.
Đây là điểm then chốt liên quan trực tiếp đến HTX sản xuất đầu vào.
(3) Tổ chức sản xuất theo chuỗi
- Xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ tập trung;
- Liên kết HTX – doanh nghiệp – nông dân – nhà khoa học;
- Phát triển chuỗi giá trị từ sản xuất → chế biến → tiêu thụ.
(4) Khoa học công nghệ và chuyển giao
– Ứng dụng:
+ Công nghệ sinh học,
+ Công nghệ vi sinh,
+ Công nghệ số trong quản lý sản xuất hữu cơ.
(5) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
– Tăng cường đào tạo kỹ thuật sản xuất hữu cơ;
– Nâng cao năng lực cho HTX, doanh nghiệp.
(6) Xúc tiến thương mại và thị trường
– Hỗ trợ xây dựng thương hiệu;
– Phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;
– Truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sản phẩm.
2.4. Chính sách hỗ trợ
– Hỗ trợ 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;
– Hỗ trợ đào tạo, tập huấn;
– Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;
– Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại;
– Huy động nguồn lực từ ngân sách + xã hội hóa.
- Vai trò của HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học
HTX không chỉ là đơn vị sản xuất mà còn là:
– Nhà cung cấp đầu vào chiến lược cho nông nghiệp hữu cơ;
– Trung tâm chuyển giao công nghệ vi sinh;
– Cầu nối giữa nghiên cứu – sản xuất – thị trường.
Các sản phẩm chính:
– Phân hữu cơ truyền thống (compost);
– Phân hữu cơ vi sinh (có chủng vi sinh vật hữu ích);
– Chế phẩm sinh học (EM, Trichoderma, Bacillus, enzyme…).
- Lưu ý quan trọng cho HTX sản xuất phân bón và chế phẩm sinh học
4.1. Tuân thủ pháp lý
– Sản phẩm phải:
+ Được công bố hợp quy / đăng ký lưu hành;
+ Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
– Không chứa:
+ Kim loại nặng vượt ngưỡng;
+ Vi sinh vật gây hại;
+ Thành phần hóa học bị cấm trong hữu cơ.
4.2. Kiểm soát chất lượng vi sinh
– Chủng vi sinh phải:
+ Rõ nguồn gốc;
+ Có mật độ (CFU) đạt tiêu chuẩn;
– Đảm bảo:
+ Khả năng sống,
+ Hiệu quả thực tế ngoài đồng ruộng.
4.3. Chuẩn hóa quy trình sản xuất
– Xây dựng quy trình:
+ Lên men (hiếu khí/kỵ khí),
+ Ủ compost,
+ Nhân sinh khối vi sinh;
– Áp dụng tiêu chuẩn:
+ ISO
+ HACCP hoặc tương đương.
4.4. Liên kết chuỗi giá trị
– HTX cần liên kết với:
+ HTX trồng trọt hữu cơ (đầu ra sử dụng sản phẩm);
+ Doanh nghiệp phân phối;
+ Viện nghiên cứu (cải tiến công nghệ).
4.5. Định hướng thị trường
– Sản phẩm cần:
+ Phù hợp tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế;
+ Có hồ sơ kỹ thuật rõ ràng;
– đến:
+ Xuất khẩu;
+ Cung cấp cho các vùng nông nghiệp công nghệ cao.
4.6. Đổi mới công nghệ
– Ứng dụng:
+ Công nghệ nano sinh học;
+ Công nghệ enzyme;
+ Công nghệ lên men thế hệ mới;
– Tích hợp mô hình:
+ Zero Waste – tuần hoàn sinh học không phát thải.
- Thảo luận
Quyết định 885/QĐ-TTg mở ra cơ hội lớn cho HTX, nhưng cũng đặt ra thách thức:
– Yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng;
– Cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu;
– Đòi hỏi đầu tư công nghệ và quản lý.
Tuy nhiên, nếu tận dụng tốt:
– HTX có thể trở thành nhà cung cấp đầu vào chiến lược,
– Góp phần định hình hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
- Kết luận
Quyết định 885/QĐ-TTg không chỉ là định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ mà còn là cơ hội chiến lược cho các HTX sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học.
Việc tuân thủ tiêu chuẩn, đầu tư công nghệ và liên kết chuỗi giá trị sẽ giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.
Thực hiện: Thành Vinh – Phó ban công nghệ
TỔNG QUAN NGHỊ ĐỊNH 109/2018/NĐ-CP VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC
Tóm tắt (Abstract)
Nghị định 109/2018/NĐ-CP là khung pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động sản xuất, chứng nhận và thương mại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Nghị định đặt ra các nguyên tắc nghiêm ngặt về canh tác, kiểm soát đầu vào, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận, đồng thời đưa ra các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững. Bài viết này tổng hợp các nội dung cốt lõi của Nghị định và phân tích các yêu cầu, cơ hội cũng như lưu ý thực tiễn đối với hợp tác xã nông nghiệp trong việc ứng dụng chế phẩm sinh học.
- Giới thiệu
Nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và nhu cầu tiêu dùng an toàn gia tăng. Tại Việt Nam, Nghị định 109/2018/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầu tiên quy định toàn diện về lĩnh vực này, từ sản xuất đến tiêu thụ.
Đối với các HTX nông nghiệp, đặc biệt là các mô hình canh tác công nghệ cao và tuần hoàn sinh học, việc hiểu và tuân thủ Nghị định là điều kiện tiên quyết để tham gia thị trường hữu cơ trong nước và quốc tế.
- Nội dung chính của Nghị định 109/2018/NĐ-CP
2.1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định quy định về:
- Sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ;
- Chứng nhận, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc;
- Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Áp dụng cho các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và sản phẩm chế biến hữu cơ.
2.2. Nguyên tắc sản xuất hữu cơ
Các nguyên tắc cốt lõi bao gồm:
- Không sử dụng hóa chất tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, phân bón vô cơ, chất kích thích sinh trưởng;
- Không sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO);
- Bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất;
- Áp dụng phương pháp canh tác tuần hoàn, sinh học và bền vững.
2.3. Yêu cầu về đầu vào
- Chỉ sử dụng vật tư đầu vào được phép trong sản xuất hữu cơ, bao gồm:
- Phân bón hữu cơ, phân vi sinh;
- Chế phẩm sinh học, vi sinh vật có lợi;
- Thuốc bảo vệ thực vật sinh học (có nguồn gốc tự nhiên).
- Nguồn gốc, thành phần và quy trình sản xuất của các vật tư phải được kiểm soát và công bố rõ ràng.
2.4. Chứng nhận và ghi nhãn
- Sản phẩm hữu cơ phải được tổ chức chứng nhận được chỉ định đánh giá và cấp chứng nhận.
- Có thể áp dụng:
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)
- Hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương (EU Organic, USDA Organic…)
- Sản phẩm đạt chuẩn được phép gắn logo “Hữu cơ Việt Nam”.
- Bắt buộc có hệ thống truy xuất nguồn gốc.
2.5. Hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS)
Đối với HTX hoặc nhóm nông dân:
- Phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal Control System – ICS);
- Theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất của từng thành viên;
- Ghi chép nhật ký sản xuất đầy đủ và minh bạch.
2.6. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Nghị định quy định nhiều cơ chế hỗ trợ:
- 100% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu;
- 100% chi phí khảo sát đất, nước, môi trường;
- Hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật;
- Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất hữu cơ;
- Hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại.
- Vai trò của chế phẩm sinh học trong nông nghiệp hữu cơ
Chế phẩm sinh học là yếu tố trung tâm thay thế cho hóa chất trong hệ thống hữu cơ. Bao gồm:
- Vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân;
- Nấm đối kháng, vi khuẩn kiểm soát dịch bệnh;
- Enzyme sinh học, chế phẩm lên men;
- Chế phẩm cải tạo đất, xử lý môi trường.
Vai trò:
- Cải thiện độ phì đất;
- Tăng sức đề kháng cây trồng;
- Giảm chi phí đầu vào dài hạn;
- Phù hợp với mô hình Zero Waste – tuần hoàn sinh học.
- Lưu ý quan trọng đối với Hợp tác xã khi sử dụng chế phẩm sinh học
4.1. Về pháp lý
- Chế phẩm sinh học phải:
- Có nguồn gốc rõ ràng,
- Được phép lưu hành tại Việt Nam (công bố hợp quy hoặc đăng ký).
- Không sử dụng chế phẩm có thành phần bị cấm trong sản xuất hữu cơ.
4.2. Về kỹ thuật
- Phải sử dụng đúng:
- Chủng vi sinh,
- Nồng độ,
- Quy trình ứng dụng (đất, lá, nước).
- Không trộn lẫn tùy tiện với hóa chất (sẽ làm mất tác dụng vi sinh).
4.3. Về quản lý nội bộ (ICS)
- HTX cần:
- Lập quy trình chuẩn (SOP) cho từng loại chế phẩm;
- Ghi chép nhật ký sử dụng chi tiết;
- Kiểm tra định kỳ từng hộ thành viên.
4.4. Về kinh tế
- Chế phẩm sinh học thường:
- Chi phí ban đầu cao hơn,
- Nhưng hiệu quả dài hạn tốt hơn (giảm chi phí thuốc BVTV, cải tạo đất).
- Cần xây dựng mô hình trình diễn để thuyết phục nông dân.
4.5. Về liên kết thị trường
- Chỉ khi có chứng nhận hữu cơ:
- Sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao;
- Mới tiếp cận được thị trường xuất khẩu.
- HTX cần liên kết với:
- Doanh nghiệp tiêu thụ,
- Đơn vị chứng nhận,
- Nhà cung cấp chế phẩm uy tín.
- Thảo luận
Nghị định 109/2018/NĐ-CP tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ nhưng cũng rất chặt chẽ.
Thách thức lớn nhất đối với HTX là:
- Chi phí chứng nhận,
- Năng lực quản lý nội bộ,
- Nhận thức của nông dân.
Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Nhà nước và xu hướng tiêu dùng xanh, đây là cơ hội lớn để:
- Chuyển đổi mô hình sản xuất,
- Tăng giá trị sản phẩm,
- Hướng tới xuất khẩu.
- Kết luận
Nghị định 109/2018/NĐ-CP là nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Đối với HTX nông nghiệp, việc tuân thủ các quy định về đầu vào, chứng nhận và hệ thống kiểm soát nội bộ là điều kiện bắt buộc.
Việc ứng dụng chế phẩm sinh học không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chiến lược phát triển bền vững, giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.
Link tài liệu: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2018/08/109-2018-nd-cp.signed.pdf
Thực hiện: Thành Vinh
Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam
VFARM, VITAD THAM GIA “ TẾT TRỒNG CÂY” CÙNG DNCC GLOBAL
Sáng 14/3/2026, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM và Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam đã đến tham dự ngày “Tết trồng cây” tại Ba Vì – Hà Nội cùng Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global – một phần trong dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” của DNCC, do TREEBOOM – cộng đồng xanh và chống biến đổi khí hậu Net Zero của DNCC chủ trì.
Toàn cảnh “Tết trồng cây” do TREBOOM chủ trì
Về dự ngày “Tết trồng cây” này, có rất nhiều chuyên gia nông nghiệp hàng đầu khu vực phía Bắc Việt Nam:
- Đại điện Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM là là ông Hy Thành Trung Chủ tịch Hội đồng quản trị – Giám đốc, bà Đỗ Thị Phương Hiền người đồng sáng lập và bà Võ Thị Thanh Nhàn, Phó giám đốc.
- Đại diện Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global là bà Nguyễn Thu Huyền, Giám đốc kinh doanh.
- Đại diện Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam là TS Phạm Đình Nam, Viện Trưởng.
- Đại diện cho Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) là PGS.TS Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Cùng các thành viên Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh Thái VFARM, chuyên viên của Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global, chuyên gia Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam, thành viên Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) và các chuyên gia nông nghiệp về tham dự ngày lễ ý nghĩa này.
Lễ trồng cây đàn hương năm nay là sự kiện đánh dấu công tác Chuyển đổi Số – Đổi mới sáng tạo & Tăng trường Xanh của DNCC đồng thời là sự hợp tác toàn diện giữa một Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao (VFARM) và một Công ty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp số (DNCC Global) với Viện ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam trong vai trò định hướng, đào tạo về nông nghiệp hữu cơ.
Dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” được DNCC thể hiện với sự nỗ lực thực hiện với sự tập trung tốt nhất. Sự kiện Tết trồng Cây đầu năm mới như là một bước khởi đầu dự án một cách thực sự ý nghĩa mà mọi người chung tay cùng nhau hoàn thành một dự án đầy tính nhân vân và có hiệu quả kinh tế, được cộng đồng quan tâm.
Các đại biểu của VFARM, VITAD, DNCC và VGA tham dự “Tết trồng cây”
Như đã đưa tin từ bài báo trước, VFARM tài trợ chế phẩm sinh học SungWon DX, một loại thúc đẩy cho cây và một loại xử lý môi trường cho DNCC Global sử dụng ở “Tết trồng cây” lần này, với việc tưới lót khi làm đất và tưới lá, tưới thân 500 cây đàn hương sau khi trồng. Cùng với VITAD, ba bên cũng nhất trí lập Biên bản ghi nhớ (MOU) sự hợp tác này và các điều khoản hợp tác sẽ được thảo luận để cùng nhau phát triển. Ba bên cũng thống nhất thành lập Tổ công tác để theo dõi sự sinh trưởng của cây đàn hương trong suốt dự án này.

Chế phẩm sinh học của VIFARM được sinh khối và tưới cho cây đàn hương
Tại “Tết trồng cây này”, bà Nguyễn Thu Huyền – Giám đốc kinh doanh Công ty Cổ phần tập đoàn kinh tế số tuần hoàn DNCC Global cùng PGS.TS Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội Hiệp hội Chuyển đổi xanh Việt Nam (VGA) đã có cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Bà Huyền mong muốn dự án “Kinh tế hóa nông nghiệp cây đàn hương” sẽ được VGA quan tâm giúp đỡ, từ đó tìm được tiếng nói chung với các đơn vị tham gia VGA tương tự như VFARM, VITAD.
Bà Nguyễn Thu Huyền và ông Đặng Huy Đông chuẩn bị trồng cây đàn hương
Cũng tại đây, bà Nguyễn Thu Huyền chia sẻ việc trồng cây đàn hương có tính lâu dài, vì vậy cần trồng thêm các loại cây xen canh sẽ góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của bà con nông dân Ba Vì, đồng thời góp phần chuyển đổi xanh cho Thủ đô Hà Nội, cho đất nước Việt Nam chúng ta. Để làm được điều đó, TREEBOOM và DNCC cần sự hỗ trợ về phân bón vi sinh và chế phẩm sinh học của HTX VFARM cũng như đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp của VITAD. Đại diện của VFARM là ông Hy Thành Trung và đại diện của VITAD là TS Phạm Đình Nam đã vui vẻ đồng ý.
Đại diện của VFARM và đại diện của VITAD chụp ảnh lưu niệm cùng đại diện của TREEBOM
“Lễ trồng cây” đã diễn ra trong không khí vui tươi, thân thiện và đầy hy vọng về một dự án khả thi làm xanh đất nước đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao.
Một số hình ảnh khác của lễ hội.




Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)
TẬP HUẤN “SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG THEO HỆ THỐNG KINH TẾ TUẦN HOÀN BẰNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ PHÂN BÓN SINH HỌC – CHIẾN LƯỢC MARKETING SẢN PHẨM” (Ngày thứ hai)
8 giờ sáng 13/3/2026, tại Khu Bách Lộc, cụm 12 Thọ An, xã Liên Minh, thành phố Hà Nội, HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM các học viên tiếp tục khóa tập huấn: “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”.
Các giảng viên tham gia giảng dạy:
– TS Phạm Đình Nam – Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ và Phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD-AGRI), Điều phối khóa học.
– TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.
– TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên.
Khóa tập huấn là sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu, tìm hiểu về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) trong nước và quốc tế cũng như phương pháp sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học cùng với chiến lược marketing sản phẩm.
Toàn cảnh ngày thứ hai khóa tập huấn “Sản xuất Nông nghiệp bền vững theo hệ thống kinh tế tuần hoàn bằng phân bón hữu cơ và phân bón sinh học – Chiến lược marketing sản phẩm”
Mở đầu buổi sáng, TS Dinh truy bài các học viên với câu hỏi hôm trước: “Nêu những nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ của HTX Nông nghiệp công nghệ cao Địa sinh thái VFARM” và nhận được những câu trả lời chính xác, những giải pháp khả thi để đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại đây

Một học viên trả lời chính xác câu hỏi truy bài
Kế tiếp, TS Hạnh trình bày Tổng quan về phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học bao gồm các nội dung:
- Khái niệm về phân bón sinh học.
- Thực tiễn khách quan về các loại chế phẩm sinh học.
- Ứng dụng và triển vọng mang lại khi phát triển nông nghiệp bằng phân bón sinh học và chế phẩm sinh học.
- Ý nghĩa và định hướng tương lai.

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh trình bày Tổng quan về phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học
Buổi học kết thúc vào lúc 12h00, các học viên tham dự buổi ăn trưa và trò chuyện giao lưu tại phòng ăn bên cạnh lớp tập huấn.
Sau giờ nghỉ trưa, TS Dinh giảng dạy về Marketing sản phẩm, bao gồm các nội dung:
- Định vị giá trị sản phẩm
- Xác định khách hàng mục tiêu
- Xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm
- Truyền thông và quảng bá

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên gia Nông nghiệp hữu cơ – Giảng viên khóa đào tạo
Xen kẽ giữa bài giảng, TS Dinh TS Dinh và TS Hạnh đã ra một số câu hỏi tương tác với các học viên về Marketing sản phẩm và nhận được nhiều ý tưởng độc đáo, có tính khả thi cao.

Một học viên nêu ý tưởng Markerting độc đáo
Sau phần giảng dạy về Marketing sản phẩm, TS Phạm Đình Nam hướng dẫn các học viên cách ủ phân hữu cơ vi sinh từ 60-70% nguyên liệu tự nhiên, đường rỉ mật và chế phẩm sinh học VFARM. Theo ông, với nhiệt độ trung bình khoảng 25-30 độ C, độ ẩm không quá cao, chỉ cần hai lần đảo đống, với thời gian từ 10-15 ngày, chúng ta sẽ có được phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao có thể bón cho cây trồng, đóng bao cất trữ hoặc đem bán.

TS Phạm Đình Nam hướng dẫn ủ phân vi sinh
Cuối buổi học là sự xuất hiện của GS TS Nguyễn Thị Thu Hiền, người có hơn ba mươi năm kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Tại đây GS Hiền cùng với TS Nam, TS Hạnh và TS Dinh đã lần lượt trao chứng chỉ tham gia khóa tập huấn cho các học viên và chụp ảnh lưu niệm toàn khóa.

Toàn bộ Ban tổ chức, Giảng viên và Học viên chụp ảnh kỷ niệm khóa tập huấn
Một số hình ảnh khác của ngày tập huấn thứ hai.




Thực hiện: Lê Ngọc Thành Vinh – Phó ban Công nghệ, Viện Ứng dụng Công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (VITAD – AGRI)












