Gấp rút hoàn thành công tác trưng bày cho Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Linh Linh.
Chiều 25/8, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các đơn vị trực thuộc về công tác chuẩn bị cho Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Theo báo cáo, các đơn vị đã cơ bản hoàn tất khung thiết kế, bố cục trưng bày và đang gấp rút hoàn thiện các hạng mục để kịp tiến độ. Nhiều ý kiến đề xuất triển lãm cần tạo điểm nhấn rõ ràng, lựa chọn các sản phẩm, mô hình tiêu biểu nhất của ngành, đồng thời nhấn mạnh về nội dung về khoa học công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi và lâm nghiệp.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu các đơn vị rà soát, sắp xếp để Triển lãm thể hiện rõ dấu ấn 80 năm của ngành. Ảnh: Linh Linh.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh yêu cầu cao về chất lượng trưng bày. Theo Thứ trưởng, triển lãm lần này là dịp đặc biệt để tái hiện hành trình 80 năm phát triển của ngành, từ những năm tháng khó khăn thiếu đói đến thành tựu hôm nay khi nông nghiệp trở thành trụ đỡ của nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD cũng như môi trường – là một trong ba trụ cột phát triển bền vững của đất nước (kinh tế – xã hội – môi trường).
Thứ trưởng đề nghị các đơn vị rà soát kỹ, phân khu trưng bày theo các giai đoạn lịch sử và thành tựu nổi bật của từng lĩnh vực. Trồng trọt cần thể hiện rõ bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang nền nông nghiệp hàng hóa, với các sản phẩm tỷ đô như gạo, cà phê, rau quả. Chăn nuôi phải phản ánh sự phát triển từ quy mô hộ gia đình đến trang trại công nghệ cao, bảo đảm an toàn sinh học. Thủy sản cần có cả hình ảnh khai thác và nuôi trồng, thể hiện vai trò của ngư dân và thành tựu xuất khẩu. Lâm nghiệp giới thiệu giống cây, sản phẩm gỗ, tín chỉ carbon, mô hình rừng đa dụng. Lĩnh vực thủy lợi trưng bày các công trình tiêu biểu đã góp phần quan trọng vào an ninh lương thực và kiểm soát thiên tai. Môi trường và khoa học công nghệ phải được lồng ghép xuyên suốt, với các mô hình quan trắc, xử lý chất thải, công nghệ sinh học, vaccine…
Chiều 25/8, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các đơn vị trực thuộc về công tác chuẩn bị cho Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Linh Linh.
“Triển lãm phải toát lên được dấu ấn 80 năm, vừa khẳng định truyền thống, vừa thể hiện bước tiến mới, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên hiện đại. Các đơn vị cần phối hợp chặt chẽ, chọn lọc tinh gọn, sắp xếp khoa học, để khách tham quan dễ dàng cảm nhận được những thành tựu nổi bật nhất của ngành”, Thứ trưởng nói.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý, bên cạnh hiện vật, hình ảnh và phim tư liệu phải được thiết kế hợp lý, giúp truyền tải sinh động tới công chúng và báo chí. Các sản phẩm OCOP, làng nghề truyền thống sẽ được trưng bày như nền tảng bổ trợ, tạo sự phong phú bên cạnh những thành tựu then chốt của ngành.
Triển lãm thành tựu ngành Nông nghiệp và Môi trường dự kiến khai mạc từ 28/8 đến 5/9 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia, xã Đông Anh, Hà Nội, trong khuôn khổ Triển lãm thành tựu kinh tế – xã hội đất nước kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. Với diện tích hàng trăm mét vuông, không gian trưng bày được bố trí thành các khu chuyên đề, tái hiện hành trình phát triển của ngành qua từng giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ kháng chiến, bao cấp, đến công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.
Những thành tựu khoa học công nghệ gắn với các lĩnh vực sẽ được trưng bày tại Triển lãm. Ảnh: Linh Linh.
Hàng trăm sản phẩm, mô hình, hình ảnh, phim tư liệu sẽ được giới thiệu, trong đó có những điểm nhấn đặc sắc như cây cà phê Tây Nguyên thật, mô hình rừng đa dụng, công trình thủy lợi tiêu biểu, sản phẩm gỗ và tín chỉ carbon, cùng các ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và mô hình xử lý môi trường.
Triển lãm được tổ chức song song trên nền tảng trực tuyến với công nghệ 3D, VR, kéo dài đến tháng 8/2026, tạo điều kiện để đông đảo người dân và bạn bè quốc tế cùng tham quan, tương tác. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại những thành tựu nổi bật của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và môi trường trong 80 năm qua, mà còn khẳng định quyết tâm đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững của ngành trong giai đoạn tới.
Vừa qua, Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (Vitad – Agri) đã họp với đối tác đến từ tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức) về loại cây trồng tạo ra “đường không năng lượng” này.
Viện trưởng Phạm Đình Nam gặp gỡ Mr Hoàng Mộc Kiên và Mr Uber Thom về nguồn cung cấp dược liệu
Theo đó, ngày nay, tình trạng các bệnh liên quan đến việc thừa đường trong cơ thể người diễn ra khá nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe, thậm chí có thể gây tai biến cho con người, nhất là bệnh tiểu đường đối với người cao tuổi. Chính vì vậy các sản phẩm ngọt nhưng không chứa đường, hay chính xác hơn là sử dụng “đường không năng lượng” được người dùng ngày càng ưa chuộng. Một trong những sản phẩm đó là các loại nước uống, các thực phẩm chức năng có vị ngọt nhưng không chứa đường.
Đường cỏ ngọt cho người ăn kiêng
Làm một phép so sánh nho nhỏ, chúng ta có thể thấy lợi ích rất lớn từ loại “đường không năng lượng” này. Khi sử dụng chế phẩm dùng đường cỏ ngọt cho người ăn kiêng và cả người bình thường đều có thể ngăn ngừa tiểu đường và các căn bệnh khác liên quan đến đường mà vẫn đảm bảo sức khỏe và vị ngon. Coca Cola cũng đã áp dụng đường cỏ ngọt cho sản phẩm của mình, gọi là “Coca Cola light” có vị ngọt gần giống hương vị Cola truyền thống. Sản phẩm này có thể dùng cho người mắc bệnh tiểu đường.
Ưu điểm của đường không năng lượng
Cây đường có ngọt khá dễ trồng và có thể thu hoạch chỉ sau hơn 1 tháng bằng cách hái lá mà không làm hư hại đến cây. Đây là giống cây trồng có suất lợi nhuận lớn và thời gian thu hồi vốn nhanh. Các sản phầm từ đường cỏ ngọt càng ngày càng được thị trường ưa chuộng, chẳng hạn các loại trà, các loại nước giải khát…
Trà cỏ ngọt – một loại thức uống được giới trẻ ngày nay và người ăn kiêng ưa chuộng
Tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức) là một tập đoàn rất lớn của CHLB Đức, chuyên cung cấp các dược phẩm tự nhiên có lợi cho sức khỏe con người và rất quan tâm đến loại cây chế xuất ra “đường không năng lượng” này. Đây là cơ hội giúp bà con nông dân có thêm một loại cây trồng hiệu quả cao và là cơ hội hợp tác của các doanh nghiệp trong nước với một tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới. Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (Vitad – Agri) đã có chiến lược hợp tác lâu dài, sẵn sàng làm đầu mối liên kết giữa bà con nông dân và các doanh nghiệp chế biến nông sản trong nước với Tập đoàn Bayer trong việc thử nghiệm, kiểm nghiệm và xin cấp giấy chứng nhận VIETGAP, OCOP cho các sản phẩm “đường không năng lượng” chế biến từ cây đường cỏ ngọt, tiến tới chứng nhận hữu cơ cho các chế phẩm cơ lợi cho sức khỏe này.
Trụ sở và vùng trồng của Tập đoàn Bayer (Đức)
Quý vị có thể liên hệ với Viện Ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp Việt Nam (Vitad – Agri) thông qua website này, hoặc số điện thoại +84 912217468 để phát triển giống cây trồng đường cỏ ngọt này.
ĐÀ NẴNG – Tận dụng lợi thế địa phương và tư duy sáng tạo, nhiều nông dân Đà Nẵng đang từng bước làm giàu từ mô hình nông nghiệp tuần hoàn, chi phí thấp mà hiệu quả cao.
Gần 15 năm gắn bó với nghề nông, chị Nguyễn Thị Nhinh (thôn An Châu, xã Hòa Vang) đã xây dựng thành công mô hình nông nghiệp tuần hoàn cho hiệu quả cao. Xuất phát điểm chỉ với vài nghìn mét vuông đất và 8 con dê giống được địa phương hỗ trợ vào năm 2010, đến nay, chị đã sở hữu trang trại rộng gần 2 ha kết hợp trồng trọt và chăn nuôi.
Chị Nguyễn Thị Nhinh chăm sóc đàn dê tại trang trại chăn nuôi kết hợp trồng trọt theo mô hình tuần hoàn ở xã Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Ảnh: Phạm Huy.
Ban đầu, chị Nhinh trồng thanh long ruột đỏ trên diện tích 1.000 m² và chăn nuôi dê theo hướng tự nhiên. Nhận thấy tiềm năng phát triển, chị mạnh dạn vay 370 triệu đồng từ ngân hàng và tổ phụ nữ thôn để mở rộng quy mô sản xuất, mua thêm bò, xây chuồng trại, trồng thêm các loại cây có giá trị như mãng cầu, chuối lùn, rau ăn lá…
Đặc biệt từ năm 2017, chị quyết định chuyển đổi toàn bộ diện tích trồng cây kém hiệu quả sang trồng cỏ làm thức ăn cho vật nuôi. Song song đó, chị đầu tư xây 12 bể với diện tích 100 m² để nuôi trùn quế để vừa xử lý phân bò, phân dê, vừa tạo ra nguồn đạm tự nhiên cho vật nuôi.
Hiện trang trại của chị có hơn 100 con dê, 5 con bò, hơn 200 con gà, hơn 1 ha trồng cỏ và 200 m² trồng rau các loại. Trung bình 3 tháng chị thu 4 tạ phân chuồng để nuôi trùn quế. Mỗi năm, 12 bể trùn quế cho 5 đợt thu hoạch với sản lượng khoảng 180 kg/đợt. Trùn quế được dùng làm thức ăn cho gà, dê, bò, phần còn lại bán ra thị trường với giá 70.000 đồng/kg giun và 2.000 đồng/kg phân.
“Mô hình này giúp tôi giảm đáng kể chi phí thức ăn, tăng giá trị sản phẩm và hạn chế ô nhiễm môi trường. Dù thị trường biến động tôi vẫn có nguồn thu ổn định. Doanh thu trung bình mỗi năm từ 250 – 300 triệu đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi ròng 130 – 150 triệu đồng”, chị Nhinh chia sẻ.
Sâu canxi góp phần tái chế phế phẩm nông nghiệp, tạo nguồn thức ăn sạch và thân thiện với môi trường. Ảnh: Phạm Huy.
Thời gian tới, chị dự định mở rộng quy mô chăn nuôi, cải tạo chuồng trại, đưa cơ giới hóa vào sản xuất để nâng cao năng suất và giữ gìn vệ sinh môi trường.
Anh Nguyễn Quang Phú ở phường Hòa Khánh thì chọn hướng đi mới là đầu tư nuôi sâu canxi – sinh vật có vòng đời ngắn, ít tốn chi phí nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Sâu canxi là ấu trùng của ruồi lính đen, có giá trị cao trong chăn nuôi. Giai đoạn trưởng thành hoặc sau lột xác, sâu để lại lớp vỏ chứa hàm lượng canxi dồi dào. Cả sâu và vỏ đều có thể làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm.
Bắt đầu từ năm 2023, anh Phú đầu tư mô hình nuôi sâu canxi trên diện tích 100 m². Dù gặp không ít khó khăn do giai đoạn đầu sâu bò ra khỏi khay, chết bất thường, song anh vẫn kiên trì nghiên cứu, điều chỉnh điều kiện nuôi, nhiệt độ và thức ăn phù hợp.
Cơ sở vật chất để nuôi sâu khá đơn giản. Khay nuôi ấu trùng, lồng nuôi ruồi rộng khoảng 15 m³, khung sắt bọc vải mùng để ruồi giao phối và đẻ trứng. Trung bình 1 gram trứng sâu sẽ cho ra 2,5 – 3 kg sâu sau 15 – 20 ngày. Với 1 kg trứng mỗi năm, anh thu được khoảng 2,5 – 3 tấn sâu canxi. Giá bán 30 gram trứng là 170.000 đồng, 1 kg sâu 30.000 đồng, 1 kg phân sâu 7.000 đồng.
Khu nuôi trùn quế – một phần trong mô hình nông nghiệp tuần hoàn giúp tái sử dụng nguồn phân chuồng hiệu quả. Ảnh: Phạm Huy.
“Tôi quyết định gắn bó với mô hình này vì thấy rõ lợi ích kép, vừa xử lý được phế phẩm nông nghiệp, vừa làm thức ăn sạch, giàu dinh dưỡng cho vật nuôi. Gia đình tôi nuôi nhiều gà, vịt, từ khi dùng sâu canxi làm thức ăn, vật nuôi ít bệnh, chất lượng thịt ngon hơn, chi phí thức ăn giảm tới 70 – 80%”, anh Phú cho biết.
Hiện mỗi tháng anh Phú có thu nhập ổn định khoảng 8 – 10 triệu đồng từ việc bán trứng sâu, sâu trưởng thành và phân sâu. Đây là mô hình phù hợp với diện tích nhỏ, dễ nhân rộng, đặc biệt ở các khu vực đô thị có quỹ đất hạn chế.
Từ hai mô hình thực tế của chị Nhinh và anh Phú, có thể thấy phát triển nông nghiệp theo hướng tuần hoàn, tối ưu chi phí đang mở ra hướng đi hiệu quả cho nông dân Đà Nẵng. Không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình, mô hình còn góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng.
Trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng tăng, đất sản xuất ngày càng thu hẹp, những mô hình sử dụng hợp lý diện tích và nguồn lực như trên cần được nhân rộng, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối tiêu thụ và truyền thông mạnh mẽ, hướng đến nền nông nghiệp xanh, thông minh và phát triển bền vững.
Vải u trứng trắng ở Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đang được nhiều khách hàng đặt mua 100.000 đồng/kg, mức giá cao nhất trong các loại vải của địa phương này.
Hiện nay, huyện Thanh Hà đã có một số hộ thu hoạch vải u trứng trắng. Chính quyền địa phương đã khuyến cáo người dân thu hoạch vải khi đã bảo đảm độ chín, để vải đạt chất lượng cao nhất. Vải u trứng trắng sẽ cho thu hoạch đúng thời điểm vào tuần tới.
Vải u trứng trắng sẽ cho thu hoạch rộ vào tuần tới. Ảnh: Minh họa.
Do trà vải u trứng trắng sản lượng không nhiều và cho thu hoạch sớm nhất, nên giá bán cao. Nhiều hộ có vải u trứng trắng cho biết nhiều khách quen đã đặt mua trước với giá 100.000 đồng/kg, cao hơn vải thiều chính vụ khoảng 40.000 đồng/kg.
Vải u trứng trắng có vị thơm, cùi dầy, quả to, mọng. Loại vải này sản lượng không lớn như các loại vải u hồng, u gai, tàu lai và vải thiều chính vụ.
Huyện Thanh Hà hiện có 3.285 ha vải, trong đó có khoảng 1.900 ha vải sớm trồng tập trung ở khu Hà Đông. Năm nay do ảnh hưởng của thời tiết lạnh kéo dài nên các trà vải cho thu hoạch muộn hơn khoảng 10 ngày.
Công Ty Cổ Phần Hikari Đà Lạt tự hào giới thiệu đến quý khách hàng sản phẩm củ cải trắng chế biến cao cấp, được sản xuất theo công nghệ hiện đại Octofrost từ Thụy Điển. Đây là quy trình sản xuất tiên tiến và đảm bảo chất lượng cao nhất, giúp mang đến cho người tiêu dùng sản phẩm sạch, an toàn và giữ nguyên được giá trị dinh dưỡng tự nhiên của củ cải trắng.
Quy Trình Sản Xuất Tiên Tiến
Tại Hikari Đà Lạt, sản phẩm củ cải trắng được chế biến qua nhiều công đoạn kỹ lưỡng và kiểm soát chặt chẽ, bao gồm:
Lựa Chọn Nguyên Liệu Chất Lượng Cao: Chúng tôi chỉ lựa chọn những củ cải trắng tươi ngon, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao từ vùng nguyên liệu sạch và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Rửa Sạch Và Cắt Gọt: Sau khi được chọn lọc kỹ lưỡng, củ cải trắng sẽ được rửa sạch và cắt gọt thành các hình dạng đồng đều, tạo sự tiện lợi cho người tiêu dùng khi sử dụng.
Rửa Tinh Bằng Nước Ozone: Để đảm bảo vệ sinh tuyệt đối, củ cải trắng sẽ được rửa tinh bằng công nghệ nước Ozone, loại bỏ hoàn toàn các vi khuẩn và tạp chất còn lại trên bề mặt nguyên liệu.
Chần/Hấp: Sau khi rửa tinh, củ cải trắng được chần hoặc hấp nhanh chóng để giữ lại màu sắc tươi sáng và cấu trúc giòn ngon tự nhiên.
Giải Nhiệt: Ngay sau quá trình chần/hấp, sản phẩm được giải nhiệt nhanh chóng để ngăn ngừa quá trình nấu chín tiếp tục và bảo quản tối ưu chất lượng sản phẩm.
IQF (Đông Lạnh Nhanh Từng Phần): Công nghệ đông lạnh IQF đảm bảo từng phần của củ cải trắng được đông lạnh nhanh chóng, giữ nguyên hương vị, màu sắc và dinh dưỡng của sản phẩm.
Đóng Gói Và Lưu Trữ: Sản phẩm được đóng gói kỹ lưỡng, đảm bảo an toàn thực phẩm trước khi được lưu trữ trong kho lạnh sâu ở nhiệt độ -18 độ C, đảm bảo độ tươi ngon suốt quá trình vận chuyển và bảo quản.
Lợi Ích Sản Phẩm
Giữ Nguyên Dinh Dưỡng: Quy trình chế biến hiện đại giúp củ cải trắng giữ nguyên giá trị dinh dưỡng tự nhiên.
An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm: Sử dụng công nghệ rửa tinh bằng nước Ozone và quy trình chế biến khép kín, sản phẩm hoàn toàn an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.
Tiện Lợi: Sản phẩm đã được chế biến sẵn, dễ dàng sử dụng trong các món ăn hàng ngày mà không cần thêm bất kỳ công đoạn sơ chế nào khác.
Sự Cam Kết Từ Hikari Đà Lạt
Hikari Đà Lạt cam kết mang đến cho khách hàng sản phẩm củ cải trắng chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Công nghệ Octofrost tiên tiến cùng quy trình sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt là lời hứa của chúng tôi về chất lượng và sự hài lòng của khách hàng.
Hãy trải nghiệm sản phẩm củ cải trắng chế biến của Hikari Đà Lạt – một lựa chọn hoàn hảo cho những bữa ăn ngon, an toàn và bổ dưỡng.
Áp dụng công nghệ chiết xuất siêu tới hạn CO2, công ty cổ phần Hikari Đà Lạt đã chiết xuất thành công chất cordycept in trong đông trùng hạ thảo.
Thạc sĩ Võ Văn Thịnh, Phó giám đốc thường trực Công ty cổ phần Hikari Đà Lạt, trong nhà máy nghiên cứu.
Đông trùng hạ thảo được biết đến với các đặc tính dược lý cao và tác dụng tích cực đối với sức khỏe con người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng đông trùng hạ thảo có khả năng cải thiện hệ miễn dịch, hỗ trợ tim mạch, chống viêm, giảm cholesterol xấu trong máu và thậm chí có tiềm năng trong việc hỗ trợ điều trị ung thư.
Đông trùng hạ thảo có chứa đến 17 loại acid amin và hơn 50 hoạt chất sinh học, làm cho nó trở thành một nguồn nguyên liệu quan trọng trong việc phát triển các phương pháp điều trị bệnh tật.
Theo thạc sĩ Võ Văn Thịnh, Phó giám đốc Thường trực Công ty cổ phần Hikari Đà Lạt: “Trong quá khứ, việc chiết xuất đông trùng hạ thảo để sản xuất thuốc thường sử dụng các phương pháp truyền thống như: ngâm chiết, chưng cất thuỷ lực, và chiết xuất lỏng có áp suất. Mặc dù những phương pháp này có chi phí đầu tư thấp, nhưng gặp nhiều hạn chế như: Yêu cầu năng lượng vận hành cao; Sử dụng dung môi hữu cơ đắt tiền và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường; Mất đi một số hoạt chất quý giá ở nhiệt độ cao; Thời gian chiết xuất kéo dài, làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch chiết do quá trình oxy hóa…”.
Công nghệ chiết xuất siêu tới hạn CO2 là một phương pháp sử dụng khí CO2 làm dung môi để chiết các hoạt chất từ dược liệu tại điểm siêu tới hạn. Dưới đây là một số thông tin về công nghệ này:
Điều kiện siêu tới hạn xảy ra ở nhiệt độ gần môi trường xung quanh (khoảng 31°C) và áp suất cao (từ 200 bar trở lên). CO2 ở điều kiện này có khả năng hòa tan các chất hữu cơ.
Hiện tại, thiết bị công nghệ chiết xuất siêu tới hạn của công ty Cổ Phần Hikari Đà lạt đã đạt áp suất trên 400 bar.
Quá trình chiết xuất không để lại dư lượng dung môi, giúp sản phẩm có chất lượng cao. CO2 không độc hại, không cháy, không mùi, không vị, trơ và rẻ tiền, an toàn và thân thiện với môi trường.
Thích hợp cho ngành thực phẩm, hương liệu, tinh dầu và dinh dưỡng, nguyên liệu đầu vào cho ngành dược.
Thạc sĩ Võ Văn Thịnh chia sẻ thêm: “Khí CO2 được nạp vào bình chứa sau đo hệ thống tự động mở dòng CO2 lỏng đi qua bộ phận làm lạnh rồi qua bơm nén với áp suất cao (200 bar – 400 bar) tuỳ vào sản phẩm và tuỳ vào hoạt chất cần chiết xuất sẽ có công thức riêng. Khi đạt nhiệt độ và áp suất, CO2 trở thành dòng siêu tới hạn và được đưa vào bình chiết”.
Riêng với đông trùng hạ thảo với áp suất cao (trên 400 bar) và nhiệt độ thấp (45 – 60oC) hoàn toàn hầu hết giữ được các hoạt chất. Ngoài ra, dung môi CO2 sử dụng cho việc chiết xuất luôn thân thiện với môi trường, hầu như tái chế, tận dụng tuần hoàn không cần phải xử lý chất thải.
Khả năng khuếch tán của dung môi CO2 vào nguyên liệu tốt nhất dẫn đến việc lấy ra nhiều hoạt chất hơn; độ nhớt thấp, dễ thu hồi; độ tinh dịch chiết cao đặt biệt thu được tinh dầu dễ bay hơi và các vi lượng trong nấm.
Các chuyên gia của Công ty Cổ Phần Hikari Đà lạt đang lấy dịch Cordycept in trong hệ thống chiết xuất siêu tới hạn CO2.
Qua kết quả phân tích bởi trung tâm Tentamus hiệu suất dịch cordycep in rất cao trong nấm đông trùng hạ thảo đã được chiết xuất một cách triệt để. Đây là một tín hiệu tốt cho nguyên liệu ngành dược liệu trong tương lai.
Từ sự chắt lọc, nghiên cứu, nhóm khoa học gồm các chuyên gia thuộc công ty cổ phần Hikari Đà Lạt đã áp dụng công nghệ chiết xuất siêu tới hạn CO2 là một lựa chọn cho ngành dươc phẩm như một phương pháp tối ưu nhất hiện nay giữ lại hương liệu và tinh chất của sản phẩm.
Với những công nghệ máy móc hiện đại bậc nhất, được đầu tư theo chủ trương của lãnh đạo đến từ Nhật Bản. Nhà máy chế biến các sản phẩm từ rau, củ, quả: tinh dầu, nước ép, rau củ quả tươi cấp đông…. Đặc biệt là hệ thống chiết suất đạt ngưỡng tới hạn mà trên thế giới hiện nay chỉ có 07-09 nước trang bị được hệ thống này, để làm ra các sản phẩm như tinh dầu tiêu, tinh dầu gừng, tinh dầu trầm… Hứa hẹn sẽ tạo ra một số sản phẩm chức năng có thể chữa hiệu quả một số bệnh về dạ dạy, tiêu hoá… mà hiện tại ở Việt Nam chưa có. Halal Việt Nam hân hạnh được đồng hành cùng Hikari Đà Lạt cho những tiêu chuẩn và chiến lược phù hợp cho thị trường trong thời gian tới!
Thông tin doanh nghiệp:
Công Ty Cổ Phần HIKARI Đà Lạt.
Địa chỉ: Lô F4-F5a, Khu Công Nghiệp Phú Hội, Phú Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng.
Điện thoại: 0263 886 686 – 0868 131 515
Mail: info@hikaridalat.vn
Website: https://hikaridalat.vn/
NDO – Ngày 23/4, tại Hội nghị kết nối, thỏa thuận hợp tác tiêu thụ vải thiều tỉnh Bắc Giang năm 2025 đã diễn ra lễ ký kết biên bản ghi nhớ và hợp đồng giữa các đơn vị sản xuất, cung ứng dịch vụ và phân phối.
Ký kết hợp tác tiêu thụ vải thiều Bắc Giang 2025.
Tại hội nghị, ông La Văn Nam, Phó Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bắc Giang nhấn mạnh giá trị kinh tế của vải thiều năm 2025 ước đạt gần 5.000 tỷ đồng. Với diện tích 29.700ha, sản lượng dự kiến đạt 165.000 tấn, chất lượng vải năm nay được đánh giá cao nhất từ trước đến nay nhờ thời tiết thuận lợi, tỷ lệ ra hoa trên 90% và kiểm soát chặt chẽ 240 mã vùng trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Tỉnh Bắc Giang đã ban hành kế hoạch xúc tiến thương mại, hỗ trợ nông dân kỹ thuật canh tác, bảo đảm an toàn thực phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu tới hơn 30 quốc gia như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Trung Đông. Tỉnh cũng đẩy mạnh tiêu thụ trực tuyến qua các sàn thương mại điện tử (Buudien.vn, Shopee, Lazada) và mạng xã hội (TikTok, Facebook).
Ông Nam kêu gọi các siêu thị, sàn thương mại điện tử và đơn vị logistics hợp tác chặt chẽ, tối ưu hóa vận chuyển để bảo đảm vải thiều tươi ngon đến tay người tiêu dùng, đồng thời cam kết cung cấp dịch vụ hậu cần tốt nhất, từ nguồn vốn, kho bãi đến an ninh, trật tự.
Chăm sóc vải thiều tại Bắc Giang.
Cũng tại hội nghị, các đơn vị như Hợp tác xã Hồng Xuân, Viettel Post, Công ty vận tải đường sắt RATRACO, sàn thương mại điện tử Nongsan.buudien.vn và Tập đoàn MM Mega Market thảo luận để làm rõ các khâu sản xuất, logistics, phân phối vải thiều năm 2025. Hợp tác xã Hồng Xuân chia sẻ thành tựu đạt chứng nhận GlobalGAP và khó khăn về hạ tầng, hạn hán. MM Mega Market cam kết tiêu thụ 2.000 tấn vải, trong đó 60 tấn xuất khẩu, qua chương trình khuyến mãi tháng 5-6.
Tại đây, các đơn vị đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác tiêu thụ vải thiểu như; các Hợp tác xã (Thanh Hải, Phì Điền, Lục Ngạn Xanh, Hồng Xuân) ký kết với Viettel Post, Central Retail, MM Mega Market, sàn thương mại điện tử Nongsan.buudien.vn và RATRACO, bảo đảm cung ứng vải thiều cho siêu thị, chợ đầu mối, sàn thương mại điện tử, và thị trường xuất khẩu.
Khẳng định cam kết hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp về logistics, an ninh và xúc tiến thương mại, ông Dương Ngọc Chiên, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bắc Giang kêu gọi các đối tác tiếp tục đồng hành, mở rộng kênh phân phối để đưa vải thiều Bắc Giang đến gần hơn với người tiêu dùng toàn cầu, củng cố thương hiệu vải thiều Bắc Giang, hứa hẹn vụ mùa 2025 thành công rực rỡ.
(Chinhphu.vn) – Bắc Giang, thủ phủ vải thiều của cả nước, đang bước vào vụ mùa 2025 với nhiều kỳ vọng lớn dù đối mặt với không ít thách thức từ thời tiết và nguồn nước tưới. Với sự chuẩn bị bài bản từ sản xuất đến tiêu thụ, tỉnh đang nỗ lực để đảm bảo một vụ mùa thành công, vừa nâng cao giá trị kinh tế, vừa khẳng định thương hiệu vải thiều trên thị trường trong và ngoài nước.
Vải thiều tại Bắc Giang hiện nay (25/4/2025) đang bắt đầu trổ quả, kích cỡ tương đương đầu đũa. Ảnh: Trịnh Duy Dũng
Sản lượng và chất lượng cao
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Giang, năm 2025, diện tích vải thiều toàn tỉnh được duy trì ổn định ở mức 29.700 ha, bao gồm 8.000 ha vải sớm và 21.700 ha vải chính vụ. Sản lượng dự kiến đạt 165.000 tấn, trong đó vải sớm ước tính 60.650 tấn và vải chính vụ 104.350 tấn. Giá trị sản xuất vải thiều được kỳ vọng đạt khoảng 5.000 tỷ đồng. Thời gian thu hoạch vải sớm sẽ diễn ra từ ngày 20/5 đến 15/6, trong khi vải chính vụ bắt đầu từ 10/6 và kéo dài đến 20/7/2025.
Dù thời tiết năm nay không thuận lợi với tình trạng nắng nóng và khô hạn kéo dài, tỷ lệ ra hoa của cây vải thiều vẫn đạt trên 90%, tỷ lệ đậu quả đạt hơn 80%. Tại Hội nghị kết nối, thỏa thuận hợp tác tiêu thụ vải thiều năm 2025 diễn ra ngày 23/4, ông Lê Bá Thành, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Giang khẳng định: “Chất lượng vải thiều Bắc Giang năm nay cao hơn năm trước và có thể nói là tốt nhất từ trước đến nay.” Hiện tại, tỉnh có 16.000 ha vải thiều đạt tiêu chuẩn VietGAP, 204 ha đạt GlobalGAP và 10 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường.
Để đạt được kết quả này, ngay từ đầu vụ, Bắc Giang đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt. Các mã số vùng trồng được kiểm soát chặt chẽ với 240 mã số và 39 cơ sở sơ chế, đóng gói xuất khẩu. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được giám sát nghiêm ngặt, đảm bảo không sử dụng chất cấm hay chất gây hại. Ngành nông nghiệp cũng tăng cường theo dõi sâu bệnh, áp dụng các biện pháp phòng trừ kịp thời với phương châm lấy chất lượng và an toàn làm yếu tố cốt lõi.
Mặc dù triển vọng sản lượng và chất lượng khả quan, một lo ngại lớn hiện nay là tình trạng thiếu nước tưới. Nhiều tháng qua, Bắc Giang gần như không có mưa, dẫn đến một số cây vải ở vùng cao bị chết do hạn. Để khắc phục, ngành nông nghiệp đang tập trung hướng dẫn nông dân các biện pháp chăm sóc, kiểm soát chặt chẽ vật tư đầu vào, đồng thời dự báo kịp thời tình hình sâu bệnh để có biện pháp ứng phó hiệu quả. Những nỗ lực này không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại mà còn đảm bảo chất lượng quả vải trong bối cảnh thời tiết bất lợi.
Phát triển kênh tiêu thụ đa dạng
Bắc Giang đang áp dụng chiến lược tiêu thụ đa dạng, kết hợp giữa thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời đổi mới phương thức bán hàng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Ông La Văn Nam, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang, cho biết tỉnh xác định coi trọng tất cả các thị trường, từ nội địa đến quốc tế.
Về thị trường trong nước, tỉnh Bắc Giang đã chủ động kết nối ngay từ đầu vụ với các hệ thống phân phối lớn như Tập đoàn Central Retail, MM Mega Market Việt Nam, Saigon Co.op (Co.opmart), WinCommerce (WinMart), cùng các chợ đầu mối và chợ truyền thống tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Nai và nhiều tỉnh, thành phố khác. Các doanh nghiệp, thương nhân trong cả nước cũng được khuyến khích tham gia ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các hợp tác xã và nhà vườn.
Thị trường xuất khẩu cũng tiếp tục được mở rộng. Trung Quốc vẫn là thị trường truyền thống với quan hệ hợp tác lâu năm, nhưng tỉnh cũng chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Malaysia, UAE, Singapore, Trung Đông, Thái Lan và Canada. Sản phẩm xuất khẩu bao gồm cả vải tươi và vải chế biến, nhằm đa dạng hóa sản phẩm và tăng giá trị gia tăng.
Đặc biệt, Bắc Giang đang đổi mới phương thức tiêu thụ bằng cách kết hợp bán hàng truyền thống với thương mại điện tử. Vải thiều được đưa lên các sàn thương mại điện tử trong và ngoài nước, cũng như quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội như TikTok, Facebook, Zalo, Youtube. Các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối được khuyến khích mở rộng mạng lưới thu mua, ưu tiên phân phối vải thiều, đảm bảo đưa sản phẩm tươi ngon nhất đến tay người tiêu dùng.
Bắc Giang cam kết tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp, thương nhân trong và ngoài nước tham gia thu mua, chế biến và tiêu thụ vải thiều. Tỉnh đã chỉ đạo đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện vật tư, dịch vụ phụ trợ phục vụ sản xuất và kinh doanh. Các đơn vị logistics, chuyển phát nhanh cũng được khuyến khích nghiên cứu giải pháp bảo quản, xây dựng chuỗi logistics chuyên biệt với chi phí hợp lý, rút ngắn thời gian vận chuyển để đảm bảo vải thiều luôn tươi ngon khi đến tay người tiêu dùng.
Trong thời gian tới, Bắc Giang sẽ xây dựng hệ thống logistics hiện đại để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng, đồng thời phát triển các chợ nông sản đầu mối. Tỉnh cũng kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào các trung tâm logistics tại địa phương. Ngoài ra, Bắc Giang sẽ tham gia hội chợ trái cây tại Mỹ Tho (Cần Thơ) vào tháng 5/2025 để quảng bá vải thiều cùng các nông sản và nét văn hóa đặc sắc đến người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Bắc Giang không chỉ dừng lại ở việc tiêu thụ vải thiều tươi mà còn hướng đến chế biến sâu để gia tăng giá trị. Các sản phẩm chế biến từ vải như trà, đồ uống, bánh, mứt đang được khuyến khích phát triển, giúp kéo dài thời gian tiêu thụ và giảm áp lực mùa vụ. Việc sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và hữu cơ cũng được mở rộng, nhằm đáp ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường quốc tế, đồng thời nâng cao giá trị thương hiệu “Vải thiều Lục Ngạn” – sản phẩm OCOP 5 sao nổi tiếng.
Thiếu quỹ đất khiến nhiều hợp tác xã nông nghiệp ở Thái Nguyên khó triển khai sản xuất tập trung quy mô lớn hoặc ứng dụng khoa học công nghệ, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển bền vững kinh tế hợp tác.
Với quỹ đất lớn cùng nguồn nước ổn định, phường Túc Duyên (TP Thái Nguyên) đã trở thành vựa rau của cả tỉnh với nhiều phương pháp canh tác tiên tiến. Ảnh: Việt Bắc
Theo thống kê, tính đến hết năm 2024, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 541 Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp với 32.000 thành viên, người lao động. Các HTX đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho thành viên, người lao động với thu nhập bình quân đạt từ 4 – 4,5 triệu đồng/người/tháng,
Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế hợp tác xã tại Thái Nguyên gặp phải một số vấn đề mang tính cố hữu, một trong số đó là quỹ đất để các HTX hoạt động sản xuất ổn định, lâu dài. Thiếu quỹ đất đã và đang ảnh hưởng lớn đến tính cạnh tranh, sự phát triển bền vững của HTX.
HTX dịch vụ nông nghiệp Lương Phú tại Phú Bình thành lập năm 2017, với 7 thành viên. Hiện nay, HTX có khoảng hơn 3ha đất chủ yếu là trồng dưa chuột. Tuy vậy số đất này lại phân tán theo sở hữu của từng thành viên, việc không tập trung trên một diện tích lớn đã khiến những định hướng về sản xuất của hợp tác xã này gặp khó.
Bà Âu Thị Phương Hà – Phó Giám đốc HTX Phú Lương – cho biết, “Dù định hướng của HTX là tạo ra những sản phẩm rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ nhưng đến nay chưa thực hiện được. Việc sản xuất trên đất riêng lẻ, không liên tục trong năm, dẫn đến khó khăn trong việc kiểm soát chặt chẽ về điều kiện canh tác, nguồn nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật” – bà Hà chia sẻ.
Không chỉ gặp khó trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, việc thiếu quỹ đất sản xuất tập trung còn khiến HTX khó trong triển khai các phương án cơ giới hóa, đầu tư hạ tầng để phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
Tại HTX dịch vụ nông nghiệp Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, dù đã có nhiều năm hoạt động hiệu quả trong việc liên kết trong trồng một số loại rau ăn lá và ăn quả, nhưng HTX vẫn gặp khó khăn khi muốn ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất bởi đất đai phân tán nhỏ lẻ.
“Ai cũng hiểu được ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất sẽ nâng cao chất lượng, năng suất và cả giá thành sản phẩm nhưng làm được với chúng tôi cũng không dễ. Đơn cử như chúng tôi có ý định đầu tư nhà kính, nhà màng để trồng rau theo tiêu chuẩn mới nhưng 5 năm nay chưa làm được vì đất canh tác nằm rải rác”, ông Miêu Văn Long – Giám đốc HTX Nam Hòa – cho hay.
Theo Liên minh HTX tỉnh Thái Nguyên, hơn 4 năm qua (từ năm 2020 đến 2024) toàn tỉnh đã tăng thêm được 175 HTX, tuy vậy số hợp tác xã thực sự hoạt động hiệu quả chỉ chiếm trên 55%. Một trong những nguyên nhân là do nhiều HTX chưa có hoặc chưa thể tiếp cận được với nguồn lực đất đai.
Bà Vũ Thị Thu Hương – Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Thái Nguyên – cho biết, việc hỗ trợ để các HTX được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn vốn vay ưu đãi, từ đó các HTX có điều kiện để thuê lại đất sản xuất lâu dài của người dân để phục vụ sản xuất sẽ giúp các hợp tác xã phát triển ổn định, có tính lâu dài.
“Sớm tháo gỡ những khó khăn về đất đai sẽ giúp các hợp tác xã nông nghiệp nâng tầm hoạt động, đưa sản phẩm nông nghiệp địa phương vào chuỗi giá trị cao hơn, góp phần nâng cao đời sống người dân” – bà Hương nhận định.
Pellentesque habitant morbi tristique senectus et netus et malesuada fames ac turpis egestas. Vestibulum tortor quam, feugiat vitae, ultricies eget, tempor sit amet, ante. Donec eu libero sit amet quam egestas semper. Aenean ultricies mi…